11西貢街頭的摩托車司機(p173-p188)
這篇故事以第一人稱敘述者(一位前南越傘兵、戰後在西貢街頭討生活的男子)為視角,採用非線性敘事:從1975年西貢淪陷的混亂開始,穿插童年回憶、戰爭經歷、與愛人「Quỳ」的感情,以及戰後的落魄生活。標題中的「摩托車司機」象徵敘述者戰後在街頭開 xe ôm(摩托車載客)維生的卑微身份,故事核心圍繞戰爭的荒謔、家庭破碎、愛情遺憾與人性在亂世中的掙扎。
整體情節大綱
故事背景橫跨1950年代至1980年代,主要地點為西貢(胡志明市)第四郡、七賢十字路口、張明江路等地,以及戰場(廣治、守德等)。敘述者從一個聽命行事的年輕士兵,經歷投降、搶糧、童年流浪、戰場生死、愛情分離,最終成為街頭摩托車司機,頭髮花白、記憶混亂。主題強調「戰爭結束後,人依然要繼續活下去」的無奈與堅韌,穿插對命令、服從、家庭與愛情的反思。全文帶有強烈的個人情感與對時代的無力感。
事件順序(按故事敘述順序,非嚴格時間線)
- 開頭:1975年4月西貢淪陷與最後戰鬥(p173–p174) 敘述者在第14傘兵營服役,於七賢十字路口阻擊北越T-54坦克,在張明江路上打斷坦克履帶,獲得短暫「輝煌」。中午營長下令「隨便你們走吧」,單位解散,士兵扔掉武器。敘述者回顧巴黎協定後的預感,以及營長自掏腰包維持團結、五名年輕少尉自願當普通士兵的場面。 四名傘兵遭戴紅臂章的人攔截要求脫衣卸槍,其中一人舉槍後放棄。敘述者腦中空白,走過龜湖、維新路、自由路,看見憔悴卻鬆一口氣的臉孔。
- 回家與搶糧倉(p174–p175) 回到第四郡家中,敘述者呆坐兩小時。兩個弟弟回來,邀他與全巷居民一起去搶糧倉,三兄弟扛回三袋米,第二次已空無一物。 晚上全家吃團圓飯,父親強裝正常氣氛,安排明天清理水池,大家喝啤酒。敘述者徹夜難眠,反思「四月讓我認清人的面目」。
- 童年回憶:1960年父親入獄與家庭變故(p175) 十歲時,父親(曾是法軍傘兵,也參加過越盟)因聽命包圍獨立宮而入獄,母親離家出走,四個孩子由奶奶照顧。母親兩年後回來,父母繼續生活,又生九個孩子(敘述者為長子,共13人)。敘述者曾脫口責怪母親,事後後悔。
- 學校霸凌、流浪與修道院(p176–p177) 奶奶照顧孩子期間,敘述者上學,每週四、日學拉丁文做彌撒,祈禱後獲得麵包與乳酪(因最虔誠得到較大份)。被高官兒子霸凌(因父親是「叛徒」),忍無可忍用竹尖鋼筆刺傷對方,警察上門,他逃走流浪至豆腐市場。 厭倦流浪後回家,奶奶送他去頭頓修道院,他受不了規矩逃到大叻,被好心姐妹收留一晚,給熱牛奶與書看,後被送回西貢。奶奶從此不再送孩子去修道院。
- 鄰里生活與初戀萌芽(p177–p178) 住在永惠巷天主教社區,靠近Bastos香菸廠與運河船屋。與同學Ái Dung(Dung)成為好友,用「tao mày」互稱,在教堂唱詩班。她有可愛的缺牙笑容。十五、六歲時常幫她家挑水,聊天,聞到她頭髮香味,但感情未明朗,後淡去,仍一起玩耍看電影。
- 戰爭直接衝擊:1968年教堂火箭彈攻擊(p178–p179) 國慶日清晨5:30,來自Rừng Sác的火箭擊中教堂,造成20死60傷。兩天後Dung的遺體下葬。敘述者感慨戰爭從書本與遠處炮聲,變成身邊的血肉。
- 與Quỳ的愛情與分離(p179–p182) 1975年6月,Quỳ從芽莊來西貢,勸他忘記戰爭跟她走。他計劃逃入森林,送她回去,事後視為一生最大遺憾。 Quỳ與妹妹Đỗ Quyên由早逝母親以野花命名,Quỳ成熟能幹。兩人交往中,Quỳ父親(集中營副主任)半開玩笑警告他。敘述者曾在軍官俱樂部為保護Quỳ開槍打傷高官侄子,被關押後降階。1972年在廣治作戰。
- 戰場經歷與人性時刻(p182–p185) Quỳ姐妹來順化探望,他獲假陪伴。廣治時 nightly 護送棺木,幫助一名逃兵換制服南逃,收到耳環感謝。 1974年Quỳ父親過世,1975年2月姐妹撤至芽莊靠縫紉維生。敘述者目睹醫院與停屍間的寡婦悲痛,以及鄰里六名青年戰死。
- 戰後落魄與街頭生活(p185–p188,結尾) 在Hoàng Lan咖啡館聽感傷詩歌。戰後被關在Tuy Hòa,Quỳ來探望勸他去芽莊。他出獄後心碎,在妹妹墳前難過(本想刻上自己名字)。 四十歲回到西貢,頭髮已白,做各種零工,包括在街頭當摩托車司機(xe ôm)載客。一次騎車摔倒,頭部受傷躺在路邊。記憶混亂,邊界永遠消失,錯過的承諾無法挽回。最後以「別哭了,妹妹」般的自語或對逝者的安慰結束。
敘事特色
- 非線性結構:以1975年淪陷為主軸,不斷切換童年、戰爭、愛情與戰後片段,營造記憶碎片感。
- 情感層次:從戰場的紀律與短暫榮光,到投降的空虛、家庭的破碎、愛情的遺憾,最後是街頭生存的麻木與反思。
- 象徵:摩托車司機代表戰敗者的卑微命運;「隨便你們走吧」體現命令崩解;Dung與Quỳ代表戰爭吞噬的青春與愛情。
這篇故事風格平實卻充滿內心獨白,與前一篇《老椰子樹》同樣聚焦戰後越南普通人的創傷與韌性,但更集中於西貢都市街頭的個人命運。
- 總統投降了,士兵仍成建制在戰鬥
- 士兵不能單純只知道接受命令,參與政變誤了一生
- 猶豫誤了一生姻緣
Người lái xe ôm trên phố Sài Gòn (p173-p188)
Ông Dương Văn Minh là ai tôi không biết. Ông tư lệnh đã bỏ đi mặt mũi thế nào tôi không hay. Tôi chỉ biết tiểu đoàn trưởng của tôi. Tiểu đoàn trưởng đang sát cánh với chúng tôi. Trung đội trưởng vẫn đội nón sắt mang súng đi đằng trước. Cho tới giờ phút này đơn vị tôi vẫn nguyên vẹn. Chúng tôi vẫn tác chiến.
Buổi sáng đơn vị chặn ở ngã tư Bảy Hiền. Chúng tôi không ảo tưởng xoay chuyển được tình hình. Nhưng tinh thần kỷ luật, tinh thần đồng đội ăn sâu trong máu.
Loạt đạn cuối cùng bắn đứt xích chiếc xe tăng T-54. Chúng tôi òa ra hò reo. Phút giây huy hoàng cuối cùng trên đường Trương Minh Giảng.
Mười hai giờ rưỡi trưa, tiểu đoàn trường tập hợp anh em. Tùy tụi bay.
Tùy tụi bay chứ không ra lệnh.
.173.
Chúng tôi quăng súng.
Không còn gì nữa. Tôi hiểu. Tôi đã hình dung ra cái ngày này từ khi hiệp định Pari được ký kết. Nhưng khí nó đến tôi bàng hoàng. Cờ còn nước đánh mà phải xếp bàn.
Tháng tư giúp tôi nhận ra được khuôn mặt người.
Một anh nghĩa quân, đơn vị tháo chạy, anh vẫn chiến đấu một mình. Tiểu đoàn 14 nhảy dù của tôi, suốt một tuấn không còn hệ thống chỉ huy, không có tiếp tế, tiếu đoàn trưởng vẫn bỏ tiền túi ra kiếm cái ăn cho anh em gắn kết nhau tới phút cuối cùng.
Trường Võ bị di tản về Thủ Đức. Còn lại khóa 29 . 30 - 31. Khóa 29 còn một năm nữa mới ra trường, về Thủ Đức họ tổ chức cho mãn khóa. Năm thiếu úy trẻ măng được bổ sung vào tiểu đoàn. Phân công năm ông này làm gì đây, lính còn bao nhiêu đâu. Tiểu đoàn trưởng hỏi ông thường vụ. Một cậu tên Trường đứng bật dậy như một cái máy, giơ tay: trình trung tá, chúng tôi về đây để làm lính. Hôm đó là ngày 28. Các bạn có thế đi thẳng về nhà. Vậy mà các bạn vẫn về đơn vị đề làm lính. Để làm lính tác chiến chứ không phải làm ông này ông nọ. Cả bộ chỉ huy đoàn im phăng phắc. Trung tá nghiêm nghị giơ tay lên. Tôi nhân danh tiểu đoàn trưởng xin lỗi các anh.
Ám ảnh chiến tranh, với tôi, không phải là chết chóc trên chiến trường, mà chính là lúc này. Hình ảnh một đạo quân bại trận.
.174.
Bốn người lính nhảy dù vẫn mặc quân phục. Một người lính cần thân vác theo khẩu M16. Bước đi trong im lặng. Một chiếc xe Jeep lao tới thắng bên họ. Những người tay đeo băng đỏ nhảy xuống. Lính ngụy, bỏ súng xuống, cởi quần áo!
Bốn người quay mặt lại nhìn. Một người cau mặt. Một người giơ súng chĩa về những người đeo băng đỏ. Thôi. Người vừa cau mặt hét một tiếng với đồng đội. Ông hất mũi súng thẳng lên trời.
Tôi bước đi. Đầu óc trống rỗng. Trương Minh Giảng. Hồ con rùa. Duy Tân. Tự do.
Những khuôn mặt thất thếu. Những khuôn mặt hớn hở vì thoát chết.
Về tới nhà tôi cứ ngói vậy. Không nghĩ được gì. Hai tiếng đồng hồ sau hai thằng em về. Chúng nó đi lính chưa đấy năm. Nét mặt đứa nào cũng có vẻ vô can. Chúng kêu tôi đi. Đi phá kho gạo.
Ba anh em, cùng với cả xóm, với cả quận Tư, đi phá kho gạo. Un ùn giẫm lên chân nhau. Lôi được bao nào hay bao đó. Ba anh em vác ba bao về nhà. Trở lại lần thứ hai thì không còn gì để vác nữa.
Bữa cơm tối đó thật vui. Cả nhà đầy đủ. Mỗi người một chai bia. Ba nói, mai tụi mày đi sục cái bể nước. Ba cố tạo ra không khí bình thường.
Đêm đó tôi không ngủ.
.175.
Năm 1960 tôi mười tuổi, xảy ra một chuyện ở gia dinh: ba tôi đi tù.
Ba tôi từng là lính nhảy dù trong quân đội Pháp. Trước đó ông tham gia lực lượng Việt Minh. Ông là người lính, Bốn phận ông là phục tùng mệnh lệnh. Cấp trên lệnh cho ông dân quân về bao vây Dinh Độc lập.
Ông bị bắt sau đó. Tới khi bị bắt ông vẫn không có khái niệm gì về đảo chánh.
Tôi từng thắm trách ông chấp nhận mệnh lệnh một cách cứng nhắc, nhưng nếu là tôi ở vào thời điểm đó, liệu có tìm được cách gì mềm dẻo hơn không.
Hai năm sau ra tù, ông lại được tung hô là anh hùng. Ông nói, anh hùng cái con khi. Đó là nỗi thất vọng lớn nhất của đời ông. Ông quay về đơn vị, làm hành chính vài tháng thì xin nghi. Ông lảng tránh, không muốn nhắc tới quãng thời gian đó nữa.
Thời gian ba đi tù mẹ cũng bỏ đi. Bốn đứa cháu sống với bà nội.
Mẹ quay về khi ba ra tù. Ba mẹ tiếp tục sống với nhau, như thể không có chuyện gì, họ có thêm chín đứa con nữa. Tôi là con cả trong một gia đình có mười ba đứa con.
Tôi không biết ba nghĩ thế nào, tình cảm ba mẹ ra sao, nhưng với tôi, chuyện cũ mẹ gây ra tôi nhớ miên man. Có một lần về thăm ba mẹ, mẹ trách móc tôi chuyện gì đó, tôi buột miệng, ủa sao hỏi đó má không ở lại mà dạy con. Nói xong câu đó tôi ân hận.
.176.
Mẹ bỏ đi, bà nội cưu mang bốn đứa cháu. Chúng tôi văn đi học bình thường.
Vào ngày thứ năm và chủ nhật được nghỉ học, bọn trẻ được đi học tiếng La tinh để giúp lễ. Học từ sáng đến 9 giờ là nghỉ giải lao. Khi nghỉ giải lao mỗi đứa được phát khúc bánh mì với miếng pho mai. Trước khi ra chơi đé được ăn khúc bánh mì đó chúng tôi cầu nguyện. Xin Chúa thương xót chúng con. Tôi đứng hàng đầu, là thắng gào to nhất. Dì phước hiểu ý. Dì cho tôi bánh mì bự hơn, cục pho mai bự hơn.
Lớp tôi có một thắng cao lớn. Ba nó là một công chức cô bư của Nha Công dân vụ. Trong lớp đứa nào cũng sợ nó. Ba nó đi một chiếc Traction đen giống như xe của những người đến bắt ba tôi. Nó ăn hiếp tôi ra mặt mà chẳng ai dám bênh. Vì tôi là con của một tên phản loạn. Khi bị nó đánh, tôi không dám chống cự. Nó đánh rất đau. Bị nó lấy đó, tôi cũng không dám hó hé. Nhưng nó ngu nên không biết giới hạn dừng lại. Nó dồn tôi đến mức tôi hết sợ nó. Một ngày nọ tôi lấy cây viết có ngòi bút lá tre đâm vào ngực nó. Ngòi bút lá tre không thể làm chết người nhưng nó la hét vì sợ. Nó quỳ xuống khi thấy tôi nhặt cái dùi trống bước tới. Các dì phước ùa tới níu tôi, ngăn cản.
Chiều hôm đó, khi cảnh sát đến nhà thì tôi đã kịp biến đi. Đói khát, tôi lần mò đến Chợ Đũi. Bắt đầu những ngày sống lang thang. Tôi lân la các quán hàng chờ ai thương tình cho miếng gì ăn.
.177.
Lang thang chán, tôi mò về nhà. Bà nội gửi tới vào nhà dòng ở Vũng Tàu. Để đỡ nuôi cơm. Tính cách tôi không chiu nói khuôn phép nhà dòng. Tôi trốn lên Đà Lạt.
Một đêm, thấy thằng bé nằm co ro trên manh chiếu rách bên vẻ đường, các chị đưa về hiên nhà mình. Các chị lấy chăn gối ra ngoài hiên cho tôi nắm. Sáng mai, chỉ Khuê pha cho tôi một ly sữa nóng. Nhà các chi có tiệm sách cho thuê. Tôi đứng ngoài ngó vào, thấy cuốn Juliver phiêu lưu ký hồi trước mình đang đọc dở. Em đọc được tới đâu. Tôi nhắc đoạn mình đã đọc đến. Chỉ Lan nhìn tôi cảm mến. Chị đưa tôi vào ở trong nhà, bắt đấu hỏi chuyện, nhà tôi đâu, sao lại bỏ đi. Sau đó chị bảo tôi có thể đọc bất cứ cuốn sách nào tôi thích trong tiệm sách. Một tuần sau chị đèo tôi ra bến xe, mua vé cho tôi về Sài Gòn.
Thấy tôi về, bà nội lo lắng. Bà nội đang tính gửi tiếp đứa em kế tôi cho một nhà dòng khác. Ở nhà dòng được ăn no ngủ ám sao con lại về. Con nhớ các em, con nhớ bà nội. Bà ôm thằng cháu. Bà không gửi đứa nào của bà đi nữa.
Ngôi nhà chúng tôi ở giữa xóm đạo Vĩnh Hội, kế bên hãng thuốc lá Bastos, trước mặt là xóm ghe chiếu nằm bập bềnh trên con kinh tàu hũ.
Một xóm đạo nhỏ với chín ngôi nhà được đánh số 158/1 đến 158/9. Sân nhà thờ là sân ngôi trường nhỏ Sainte - Anne, với những dì phước dòng tu Mến thánh
.178.
giá chợ quân hiến lành. Sân nhà thờ cũng là sân chơi của bọn trẻ. Những đứa trẻ con nhà nghèo cùng lớn lên, thân thiết nhau.
Đi xưng tôi nha. Đi xưng tội chưa. Cứ đến thứ bảy là con Dung nhắc tôi. Nhắc xong nó nhìn tôi cười tinh quái.
Con Dung học sau tôi một lớp nhưng hai đứa xưng tao máy. Nó không xinh lắm nhưng có cái răng khénh duyên. Dung hát hay, được vào ca đoàn.
Hối mười lăm, mười sáu tuổi tôi là chuyên gia gánh nước. Nhà nó có đồng hồ nước. Bố mẹ cho cả xóm hứng nước không lấy tiến. Tôi vác cặp thùng đến nhà nó chơi cả tiếng đồng hồ nói ba chuyện vớ vẫn. Một lần, vô tình, đứng từ phía sau tôi hít thở mùi tóc nó. Tôi không biết đó là mùi bố kết hay tinh dầu nào, chỉ thấy một hương thơm dễ chịu. Mấy ngày sau nó né tôi. Hình như nó phát hiện ra có gì hơi khác từ phía tôi. Rồi chuyện đó cũng bị lờ đi. Hai đứa vẫn rủ nhau đi chơi, xem phim.
Ngày 01/11/1968 là ngày quốc khánh. Với bên công giáo đó cũng là một ngày lễ lớn. Con Dung hẹn tôi lễ xong đi chơi, đi ăn kem. Tôi đứng dưới sân chờ. Nó đang hát thánh ca ở trên lầu.
Khi đó khoảng 5 giờ 30 phút sáng. Nhà thờ chật ních người đi lễ. Tất cả đang cùng linh mục chủ tế hướng tâm hồn về Thiên chúa.
Một chớp lừa lóe lên. Bóng tối bao phủ. Hơn một phút sau không gian mới vỡ òa. Tiếng la hét. Gạch ngói ngồn ngang. Người ta cố gắng đưa người bị thương đi cấp cứu
.179.
trước, sau đó những cái xác được kéo ra. Sáu mươi người bị thương. Hai mươi cái xác.
Một trái hỏa tiên từ hướng rừng sác bay vào Sài Gòn đi thẳng đến đây.
Hai ngày sau đoàn xe tang rời sân nhà thờ đi về nghĩa trang mang theo Maria Nguyễn Thị Dung mười bảy tuổi ngoan đạo của tôi.
Chiến tranh. Nó đã đến.
Tôi đã biết chiến tranh trước đó. Nhưng nghĩ nó đâu đâu. Chiến tranh chỉ là trong sách vở, trong các bài hát. Trận Mậu Thân đã xảy ra nhưng không phải ở chỗ chúng tôi. Những buổi tối chơi ở sân nhà thờ nhìn lên trời thấy hỏa châu thả sáng thành phố. Rồi tiếng đại bác từ xa vọng về. Chiến tranh khi đó với tôi là như thế.
Mười tám tuổi. Chiến tranh đã hiện ra trước mặt. Tôi lên đường thực hiện bốn phận một công dân.
Ông ra Nha Trang sống với tôi đi. Thấy tội nghiệp ông quá. Quên hết mọi thứ, đừng nghĩ gì nữa.
Quỳ nói với tôi khi vào Sài Gòn tìm thăm tôi, một ngày đầu tháng sáu năm bảy lăm.
Hai đứa ra phố. Quỳ ghé vào cửa hàng mua cho tôi mấy cái khăn mùi soa. Khi chờ gói hàng Quỳ ngó chăm chăm vào gói tã trẻ em. Rồi Quỳ ngước lên nhìn tôi cười. Chiến tranh qua rồi. Có gì vướng mắc giữa hai đứa nữa đâu.
-180.
Tôi nói với Quỳ ý định bỏ Sài Gòn đi. Quỷ hiểu những điều tôi đang nghĩ. Không cản cũng không ủng hộ. Hôm sau tôi tiên Quỳ về Nha Trang. Có lẽ đó là sai lầm lớn nhất trong đời tôi. Mộng rời Sài Gòn đi vào rừng quá lớn.
Chị em Quỳ ở trong trại gia bình, gần nhà thờ Thăng Thiên, bên con dốc dài rải đấy sắc hoa vàng. Loài hoa dại chỉ có sắc không hương đặc trưng xứ núi với tên gọi lăng mạn dã quỳ. Loài hoa có mặt trong thơ văn nhạc họa của bao anh lính biên trấn mộng mơ. Hai chị em được mẹ đặt tên hai loài hoa là Dã Quỳ và Đỗ Quyên. Người mẹ ấy ra đi ở tuổi đời còn quá trẻ, để lại hai đứa con gái bé bỏng với người chống quân nhân.
Hoàn cảnh gia đình đặc biệt vậy nên Quỳ sớm trưởng thành, chững chạc. Trại gia bình chỉ có đàn bà và trẻ con. Những người mẹ, người chị phải biết làm nhiều việc thường ngày của đàn ông. Một lần đến chơi tôi thấy Quỷ đang leo lên ghế sửa đường điện. Tôi muốn giúp nhưng nàng có kinh nghiệm sửa chữa hơn cả tôi.
Dã quỳ, trước đây đụng đâu tôi giảm đấy, quen nàng rồi thấy hoa tự nhiên tôi có ý thức. Một đêm về hậu cứ tôi chép cho nàng những câu thơ của Cao Thoại Châu mà tôi nghĩ là nàng thích. “Nghe lòng mình cùng phố núi chao nghiêng/Nai gõ móng trên thềm đá cũ/Nghe cả mừng vui buồn tủi/Dã quỳ ơi, anh đã quay về”. Xạo. Nịnh. Nàng nhận thơ, phê vào đó. Tôi ngượng, từ đó chẳng dám chép thơ người khác thay lòng mình.
.181.
Mỗi lần theo trực thăng lên thăm ba nàng đều có món quả gì đó cho tôi. Lần này là một chiếc khăn và áo len.
Khăn nàng đan, áo len tự nàng chọn mua. Tôi viết bài thơ "Áo tình xưa" đáp lại tấm tình. Nàng lại gửi cho tôi cây thuốc lá.
Ba nàng là trại phó, trong một lần ngồi nhậu, ông nói, mày với con gái tao mà không xong thì liệu hồn. Lấn khác ông lại nói, mày với con gái tao không xong thì chết với tao. Lần cuối cùng tôi được uống với ông là một đêm giá lạnh, khi đó tôi chưa biết mình sắp phải chuồn khỏi thành phố này. Ông nói, uống đi, khi nào thành con rể thì hằng tính, giờ tao với mày là đồng đội.
Tiến đón cách Kon Tum 45 cây số đường chim bay, sau đêm rượu đó ba nàng đề nghị đưa tôi về D17 tại Pleiku.
Về đây tôi được gặp nàng nhiều hơn. Buổi tối hai đứa dạo loanh quanh qua đối đức mẹ, vô biến hỗ. Đi với nàng tôi ý tứ lựa con đường ít gặp lính tụ tập. Tôi không muốn nàng phải nghe mấy lời trêu ghẹo vọng ra từ quán nhậu trên đường Tăng Bạt Hổ, Phan Đình Phùng, ngã tư Diệp Kính.
Một đêm về quá khuya, leo khỏi dốc tôi thở than, đi chơi với em cực quá, mỗi lần đưa về xa quá. Quỷ cười, thì ở lại đi, đừng về. Tôi cà chớn, ngu gì, ở lại đưa hết lương à. Nàng khiêu khích, không đưa lương lấy gì ăn. Cứ à ơi như thế, chưa khi nào hai đứa nói với nhau được một lời nghiêm chỉnh.
Đợi Quỳ khuất vào trong hiên nhà tôi mới ngắt ngưởng đi về. Phố núi về khuya đìu hiu. Vài chiếc xe
182.
tuấn tiêu chấm chậm qua những con đường ngắn có ánh đèn vàng vọt. Quán xá đã đóng cửa. Vài tên lính chân thấp chân cao bá vai nhau đi về. Cái lanh vừa dù xo ro cho tôi ôm đàn dao bản nhạc mới bập bẹ được đôi câu, Where do i begin to tell the story of how great a love can be.
Quỳ làm thu ngân trong hội quán Phượng Hoàng. Hội quán này dành cho sỹ quan, loại cấp ủy như tôi khó mà vào. Nhưng vì tôi làm ở lực lượng đặc biệt, bọn quân cảnh chửa mặt, nên khi thích tôi vẫn lui tới thăm Quỳ.
Sáng đó hành quân về tôi thu được một cây CKC. Súng xoàng thôi, nhưng tụi Mỹ muốn có vác về nước khoe chiến công. Một thằng ra giá. Tôi không bán mà đối một khẩu súng ngắn thời thượng của nó. Buổi sáng đối súng, chiều tôi đút súng vào túi đi chơi. Vào hộp sĩ quan tôi thấy Quỳ đang khóc. Nàng vừa bị tên trung úy vỏ mông và nói lời bất nhã.
Tôi đi tới bàn tên trung úy. Nó nhìn tôi ngạo nghễ: “ĐM mày biết tao là ai không? Mày dám làm gì tao?”. Nó ỷ thế là cháu ruột ông tưởng tư lệnh quân đoàn. Tôi rút khẩu súng ra bắn một phát vào đùi nó. Phát thứ hai. Nó quỳ lạy xin tha.
Ngay tối đó tôi đi trình diện quân cảnh. Bị nhốt đến hai giờ sáng. Ông trưởng đồn là đại úy quân cảnh gọi điện cho ông sếp tôi, là đêm nay nếu đám kia kéo đến thì ông không thể nào can thiệp được. Ở Pleiku thế lực ông tư
-183-
lệnh quân đoàn manh. Bởi vậy, muốn nhất trong sáng mai phải giải quyết cho tôi rời khỏi Pleiku.
Tôi chỉ kịp tìm Quỷ báo tin. Anh làm chi cho khố thé này. Nét mặt nàng đau buồn thấy rõ.
Về Sài Gòn tôi bị giam tại quân lao một thời gian thì ra hội đồng kỷ luật. Tôi bị giáng xuống cấp trung sĩ. Ba tôi từng là lính nhảy dù, bạn của ông là sếp lớn, ông xin cho tôi về lữ đoàn nhảy dù. Đầu năm 1972 tôi ra Quảng Trị tác chiến.
Nghe tin chiến sự ở Quảng Trị ghê gớm quá Quỷ dắt em gái ra thăm tôi. Ở Pleiku có mấy người sĩ quan nhảy dù, qua đó Quỳ hỏi thăm được địa chỉ tôi. Ở Huế có hậu trạm gọi ra lữ đoàn. Vừa trải qua hai đợt không kích, lữ đoàn đang nằm dưỡng quân. Người bạn bên lữ đoàn gọi điện báo tin tôi có người nhà đến thăm. Tôi giật máy hỏi lại người bạn câu nữa cho chắc. Ông giỡn hay thiệt vậy, người con gái đó có gì lạ trên khuôn mặt không. Không tín hả, cô ta có nốt ruồi ở gò má. Vậy là đúng Quỳ rối. Ông sếp cho tôi 48 giờ phép vào Huế.
Nhìn thấy chị em Quỳ tôi cứ ngỡ như trong mơ. Giữa chiến tranh mà chị dắt em ra tận đây thăm tôi. Tôi không nói được câu gì. Đỗ Quyên thấy tôi mừng quá khóc mếu máo tủi thân, con bé lo sợ tôi có thể bị thương hoặc chết rồi. Quỳ đi thăm bố và thăm tôi nhiều lần ở chiến trường, đã quen với cảm giác đi thăm lính nên biết dẫn cảm xúc. Tôi nắm tay Quỳ, bàn tay nàng run run.
184.
Câu trung sỹ mượn xe hon da chở Đỗ Quyên di thăm thành phố Huế, tôi và Quỷ dạo chơi loanh quanh trong doanh trại, Chiều tối tôi ra thuê khách sạn Hương nghi. Sáng hôm sau chúng tôi Giang cho hai chi em chia tay. Quỷ hỏi tôi chừng nào thì di phép. Tình hình này phép tắc gì. Quỷ dân tôi, anh cố gắng giữ gìn, cầu nguyện Chúa hàng ngày. Quỷ vẫn giữ được vẻ thán nhiên như hồi ở Pleiku đến thăm tôi. Tôi lại cà chớn, về không nhớ sao. Có gì mà nhớ, lần sau lại ra. Sau này tôi nghe người sỹ quan ngôi cùng chuyến bay với Quỳ nói lại, cô gái ra thăm ông đó, khóc từ khi lên máy bay đến khi xuống.
Thời gian ở Quảng Trị tôi có hai tháng đi hộ tống quan tài. Có một loại máy bay chuyên chở quan tài từ Phú Bài về Sài Gòn vào ban đêm. Có những ngày số xác của thủy quân lục chiến và nhảy dù đưa về chừng một đại đội. Vẫn còn một nửa số nằm lại không đưa về được. Một lần có tên đào ngũ lẻn vào sân bay, mò mẫm tìm gặp tôi. Tôi không ưa bọn đào ngũ. Có ai ra trận mà không sợ. Sợ nhưng không được hèn. Tôi cũng không ưa nghe kể lể hoàn cảnh. Nhưng lần này không hiểu sao tôi lại nghe chăm chú. Vì mới gặp lại Quỳ mà tôi mềm lòng hơn chăng. Con người ta mỗi lúc mỗi khác.
Anh ta hơn tôi nhiều tuổi nhưng xưng em. Em ở Long Xuyên, đã có vợ và sáu đứa con, ngày em đi vợ lại mang bầu đứa thứ bảy.
.185.
Cuối cùng mục đích cũng là để được tôi cho theo phi cơ về. Anh ta năn nỉ. Tôi đồng ý với điều kiện đưa cho tôi hai ngàn đồng. Anh ta vét khắp túi quần áo chỉ được mấy trăm đồng. Tôi cho một người ở lại. Mượn cho anh bộ đô nhảy dù, coi như anh thay vị trí người kia, đeo súng vào hộ tống.
Về tới Long Bình tôi đưa anh ra cổng phi trường. Anh đưa tiền, tôi không lấy. Anh ta nhìn tôi ngần ngừ như muốn nói gì và xin tên tôi. Tôi không dám cho biết tên, để phòng có gì bất trắc anh ta khai tên mình ra thì phiến. Anh ta lôi trong túi quần ra một cái gói. Mở bọc gói ra là đôi bông tai. Anh ta nói, ngày em bị bắt quân dịch vô trung tâm 4 Cần Thơ vợ đến thăm đưa cho em phòng thân. Nay anh đã cứu mạng em, em xin biếu anh. Nhin đôi bông tai của người vợ tôi ứa nước mắt. Tôi bảo anh cất đi. Lòng hào hiệp nổi lên, tôi cho xe Jeep chở anh về nhà bà con ở Sài Gòn ngủ qua đêm sáng mai bắt xe về Long Xuyên.
Bạn bè gặp tôi vẫn nói câu đó: Con Quỳ đang chờ mày.
Năm 1974 tôi biết tin ba Quỳ đã bị giết. Tháng hai năm bảy lăm những người đơn vị cũ của ba thu xếp cho Dã Quỷ và Đỗ Quyên di tản về Nha Trang. Hai chị em nương nhờ trong một nhà thờ gần Đồng Đế, sống bằng nghề thợ may.
Những ngày ở Pleiku tôi tự vấn lòng mình. Mình có muốn cưới Quỳ không. Cũng không có câu trả lời.
.186.
Có. Muốn. Nhưng chưa được đâu.
Ở Pleiku có quán cà phê Hoàng Lan mà giới lính văn nghệ sỹ hay đến. Một lần tôi đến uống cà phê gặp lúc tác giả Lý Thụy Ý đang ngâm bài thơ "Tưởng như còn người yêu. Bài thơ tang tóc u ám.
Tôi đóng quân ở cầu số 3. Kế cầu số 3 là quân y viện.
Kế quân y viện là nhà xác. Gần như ngày nào tôi cũng chứng kiến cảnh những người vợ, người mẹ la hét lăn lộn.
Trung úy Thuận trong đơn vị tôi, mỗi khi anh bước chân ra khỏi nhà là vợ anh như người mất hồn chờ cho đến khi anh về. Chị ngồi bên cửa số ngóng ra con đường dưới dốc.
Tôi cũng đã chứng kiến cảnh bà vợ ẵm đứa con. Xe Jeep nhà binh chạy đến cửa, thẳng xe lại, hai người lính trên xe nhảy xuống, bước vào nhà, đưa lá thư báo tử.
Đáng sợ không phải là cái chết của tôi, mà những gì người ta phải chịu đựng vì tôi. Chín ngôi nhà xóm đạo ở quận Tư của tôi đã sáu người con tử trận. Khi một thẳng bạn chết, ba tôi nói: Nghe tin về anh em mày tao khố
lắm, nhưng tao còn nhẹ lòng hơn hơn là chúng mày cứ lang thang ngoài đó, đêm nào cũng phải thắp nhang.
Những đêm không trực gác tôi đi bên Dã Quỳ trong trái sáng chập choạng. Có khi lặng im, có khi nói chuyện vu vơ, ăn một bát mì nóng rồi về. Qua khỏi dốc tôi tần ngắn. Quỳ xinh quá. Cô ấy còn trẻ quá.
.187.
Mộng vào rừng quá lớn. Nếu gọi đó là lý tưởng, thì lý tưởng tôi hình thành khi vào quân đội, được nuôi dưỡng trong môi trường quân đội.
Tôi bị giam ở Tuy Hòa, vài tháng Quỷ đến thăm. Với tôi Quỳ biết chẳng phải khuyên can động viên gì. Ông ráng xong mà về. Không về Sài Gòn thì về Nha Trang với tôi.
Quỳ không chờ tôi được nữa.
Cho tới khi ra khỏi trại, về ngồi trước mộ em tôi mới thấy tim mình tan vỡ. Tương lai mình vạch ra, sắp xếp rối, tưởng xong rồi. Tôi chỉ còn làm được một việc. Lập cho em ngôi mộ để lên đó tên mình.
Tôi quay về Sài Gòn. Bốn mươi tuổi. Tóc đã bạc rồi. Làm đủ thứ việc kiếm cơm. Làm đủ thứ việc cho bớt trống trải trong lòng.
Suy nghĩ chậm dần. Ký ức lộn xộn. Tôi bị ngã xe. Một vết cắt chảy máu trên đầu, người ta đỡ tôi dậy, khiêng tôi vào nằm bên vệ đường.
Biên trấn, biên trấn một đi không trở lại. Lỡ hẹn rồi đừng khóc nghe em.
.188.
留言
張貼留言