前中央情報局特工揭露美國如何「背後捅了阮文紹總統一刀」。

 

前中央情報局特工揭露美國如何「背後捅了阮文紹總統一刀」。

英國廣播公司

越南共和國主席阮文紹,1967年至1975年在位。
照片中的人物是越南共和國主席阮文紹,他於 1967 年至 1975 年執政。

2025年4月30日

「阮文紹總統被利用了,被迫辭職,以便美國能夠與共產黨進行和平談判。阮文紹只不過是棋盤上的一枚棋子,」前中央情報局特工弗蘭克·斯內普回憶起阮文紹總統的最後日子時說道。

阮文紹在1967年至1975年越南共和國動盪時期擔任國家主席。他曾是美國的寵兒,但逐漸淪為與北越和平談判的籌碼。

1975年4月21日,阮文紹辭職,四天後被迫流亡。

中情局分析師法蘭克‧石內卜的任務是開車送前總統阮文紹前往新山一機場,搭乘飛機前往台灣,並親眼見證阮文紹離開越南前的時刻:

「我非常尊重阮文紹總統。儘管他被迫以如此屈辱的方式離開越南,面臨著一個國家總統所能面臨的最大恥辱,但他仍然保持著在那種情況下很少有人能與之匹敵的尊嚴和正直,」斯內普告訴BBC

總統介紹自己時說他「哭了」。

法蘭克‧石內卜是越戰期間中情局負責北越戰略分析的首席分析師。回國後,他撰寫了《體面的間隔》一書,暗示美國希望在撤軍和南越崩潰之間留出一段合理的間隔時間(一個「看似可以接受」的時間框架),以免被視為拋棄盟友或直接戰敗。

在書中,石內卜敘述道,阮文紹總統的妻子擔心遭到暗殺,於1975年4月24日搭乘民航客機離開越南前往曼谷。然而,阮文紹當時並不願意離開越南,他認為自己還有一些事情要做。

他告訴他的表弟黃德雅(同時也是總統新聞秘書),如果他必須離開,就必須「體面地離開」。黃德雅回應說,她很擔心阮文紹的安全,並敦促他盡快離開。

“不,總統先生,現在沒有時間講究榮譽或表達敵意了。您必須立即離開。”

法蘭克‧石內卜在他的書中也記載,陳文香總統當時恐怕做夢也想不到自己有一天會親手將阮文紹驅逐出境,他擔心阮文紹的擁護者會對他進行殘酷的報復。因此,陳文香請求美國大使葛拉漢‧馬丁代為執行這項任務。

石內卜寫道,馬丁大使不想向阮文紹施壓,讓他離開西貢,因為他想維護美國大使館沒有直接參與阮文紹政治垮台的聲譽。

1973 年 6 月,格雷厄姆·馬丁大使(右)向阮文紹總統遞交國書,正式成為美國駐南越大使,接替埃爾斯沃思·邦克。
在這張照片中,格雷厄姆·馬丁大使(右)向阮文紹總統遞交國書,於 1973 年 6 月正式成為美國駐南越大使,接替埃爾斯沃思·邦克。

然而,此時出現了一個關鍵因素:楊文明將軍。楊文明認為阮文紹繼續留在西貢會阻礙他的計劃,因此他請求中央情報局特工查理·蒂姆斯確保阮文紹被迫流亡。這更加堅定了馬丁的決定。

“馬丁大使和中央情報局站長托馬斯·波爾加仍然相信可以與共產黨達成協議,特別是如果我們能夠迫使阮文紹總統離開該國的話。”

「我們從河內得到消息——一個虛假消息——說北越準備在停火後允許大使館在西貢運作。這意味著北越似乎不會消滅南越。因此,4月25日早上,領導層希望奇蹟能夠發生,如果阮文紹就此消失,」斯內普向BBC回憶道。

4 月 25 日晚,石內卜奉命駕駛汽車護送阮文紹總統前往新山一機場,以便他悄悄離開越南——這是一項令人緊張且極其危險的任務,因為當時許多人都希望阮文紹總統死。

“共產黨人想要除掉阮文紹,而他在西貢也有敵人,包括阮高琦將軍和美國反戰人士。”

1967 年 3 月 20 日,在關島阿格南國際機場舉行的歡迎儀式上,美國和越南國歌奏響,越南總統阮文紹、美國總統林登·約翰遜和越南總理阮高琦敬禮。
圖中由左至右:1967 年 3 月 20 日,在關島國際機場阿格南舉行的歡迎儀式上,美國和越南國歌奏響,越南總統阮文紹、美國總統林登·約翰遜和越南總理阮高琦敬禮。

當晚,石內卜駕駛一輛掛著假牌照的汽車,來到位於新山一國際機場郊外的前總理陳天謙的住所。那是他旅程的起點。

「我站在約定的地點,等著Thieu先生到來。Thieu先生穿著西裝,頭髮梳得一絲不苟,臉上略帶油光。他看起來就像《遠東紳士》雜誌上的模特兒。”

「這位前總統喝了點酒,因為我聞到他身上有威士忌和昂貴古龍水的味道。阮文紹進了宅邸。我在外面等著,直到他出來坐進後座。陪同阮文紹的是他的朋友——退役少將查爾斯·蒂姆斯,他當時在中央情報局工作。”

「車隊共有四輛車。Khiem先生的車在最前面,我的車在第二,還有第三輛車,我想後面還有第四輛車。街上相對空曠,當時大約是晚上八九點鐘。”

「汽車啟動後,蒂姆斯和阮文紹先生開始回憶往事。隨後,蒂姆斯轉身向阮文紹先生介紹我,說我是大使館裡最好的分析師,因此,阮文紹先生是由一位『超級司機』送他去機場。阮文紹總統跟我開玩笑說:『希望你駕駛技術高超。』我回答說,是的,在曼谷開車更具挑戰性。」

“他神態自若,用法語講話。這位前總統是一位思維敏捷、才智過人、洞察力敏銳的人。”

阮文紹總統

然後,石內卜繼續沿著漆黑的道路行駛,由於西貢正處於宵禁時間,街道兩旁只有檢查站,所以路面異常安靜。

車隊接近新山一機場時,經過一座紀念陣亡美軍士兵的紀念碑,碑文上寫著:“我們盟友的崇高犧牲將永不被遺忘。”

「我從後視鏡裡看到阮的臉,他眼眶含淚。很多人不相信,說阮從不流淚,從不表露情感。我告訴他們:他當然哭了。他是一位偉大的愛國者,而且當時他不得不在最糟糕的情況下離開祖國。”

「我認為阮是一個勇敢的人,他不會屈服於這場災難,而是在人生的危急時刻展現出了非凡的尊嚴,」石內卜向BBC回憶道。

當車隊抵達新山一時,整個地區都停電了,更加突顯了天空中共產黨的槍聲,槍聲仍然在城市週邊迴盪。

「我們下車後,紹先生轉過身來,和我握手,感謝我把他救了出來。我當時很驚訝,不明白紹先生為什麼要謝我。也許他以為我會殺了他,所以才謝我,因為這種事並沒有發生。畢竟,紹不可能知道我們是誰;他只有一個選擇:相信美國人會救他,把他帶到安全的地方。」

隨後,阮文紹先生立即登上了飛機,馬丁大使已經在飛機上等候,向他道別。

「當阮文紹消失在飛機裡時,大使走下登機舷梯,彎下腰,抓住舷梯,用力將其從飛機上扯了下來,彷彿要斬斷美國人與這項致命政策的最後一根紐帶。就這樣,這位前總統離開了西貢。”

曾接送前總統阮文紹前往新山一機場的「豪華司機」弗蘭克‧石內普,是中央情報局的戰略分析師,曾在戰爭期間在南越工作過。
照片中,綽號「首席飛行員」的弗蘭克‧石內卜正載著前總統阮文紹前往新山一國際機場。他曾是美國中央情報局的戰略分析師,在越戰期間曾在南越工作。

從親密盟友到“背後捅刀”

回到 1963 年吳廷琰總統被推翻後的時期,南越陷入了政變和反政變的漩渦,一個又一個野心勃勃的將軍試圖利用政治動盪謀取私利。

到 1967 年,由於年輕的美國軍事分析家丹尼爾·埃爾斯伯格的建議,美國政府決定集中支持一位候選人:一位謙遜的、據稱不涉政治的南越將軍阮文紹,以期結束混亂局面。

同年晚些時候,當阮文紹當選總統時,政治上的實權仍掌握在副總統阮高琦手中。然而,美國逐步削弱了阮高琦的影響力,將所有政策事務都移交給了阮文紹。

1968 年春節攻勢期間,阮文紹的一些最強大的盟友被殺,這使得美國更加決心不惜一切代價鞏固阮文紹的權力,以便他們能夠開始從越南撤軍,而不用擔心引起新的政治危機。

「起初,阮文紹有能力團結國內不同派別。他被視為堅定不移,能夠彌合天主教和佛教之間的分歧。但當美國得出結論,認為『越南化』政策失敗,南越尚未做好獨立作戰的準備時,阮文紹總統開始被認為無能為力。”

「當時,美國於1970年開始在阮文紹背後認真進行和平談判,並於1972年10月達成協議,但從未告知阮文紹相關情況。阮文紹在本國的和平締造者角色被邊緣化。局勢變得混亂。阮文紹總統曾是團結的象徵,但到了1968年,這一形象開始瓦解,」斯內文紹普分析。

1968年,阮文紹主席陪同釋譚洲法師參加了國慶紀念日的追悼會。
照片顯示的是阮文紹總統與釋譚洲在 1968 年國慶日的追悼會上。

具體來說,1968 年共產黨發動的春節攻勢以及這些最初的政治勝利導致阮文紹在美國眼中逐漸失去了信譽。

「1970 年 10 月,尼克森透露,美國實際上已經對阮文紹失去了信心,部分原因是他對腐敗過於寬容和容忍,部分原因是他將太多親信安插到關鍵職位上,削弱了南越政府。”

「當時,尼克森開始談論與北方談判,雙方進行了秘密會談,其中包括立即停火,允許北越軍隊留在南方。這意味著美國對阮文紹的信心進一步喪失,」斯內普說。

據石內卜稱,多虧了中央情報局特工武文巴提供的情報,紹得知自己被「背後捅了一刀」。

1972 年 10 月 18 日,美國國務卿兼國家安全顧問亨利·基辛格抵達西貢,他帶來了尼克森總統的一封信,信中詳細解釋了巴黎談判通過協議草案取得的積極成果,其中包括允許北越軍隊留在南方。

1972年8月17日,越南共和國主席阮文紹和美國國務卿兼國家安全顧問亨利·基辛格在獨立宮。
照片顯示,1972 年 8 月 17 日,越南共和國主席阮文紹(右)和國務卿兼國家安全顧問亨利·基辛格在獨立宮。

隨後,阮文紹強烈反對,堅決拒絕簽字,導致談判破裂。

“當時,我認為阮文紹的行動是為了西貢的利益,他敢於挑戰美國。同年12月,尼克森下令轟炸河內,這是戰爭中最猛烈的轟炸行動之一。”

「這是向雙方發出的一個信號:讓北越知道他們必須回到談判桌前,也讓阮文紹知道美國仍然支持他,」石內卜在BBC上分析道。

後來,阮文紹同意重返談判桌並接受《巴黎協定》,但他對美國盟友並未抱持任何幻想。據石內卜稱,美國駐西貢的最後一任大使格雷厄姆·馬丁曾對阮文紹撒謊,聲稱美國仍會幫助南越,並表示必要時尼克森總統會轟炸河內。

《巴黎協定》
圖片顯示的是1973年1月27日簽署的《巴黎協定》。

然而,馬丁大使撒謊了,因為美國國會在 1973 年 11 月通過了《戰爭權力法》,該法限制了美國總統在海外發起或升級軍事行動的權力。

“美國永遠不可能把B-52轟炸機運回來。但馬丁大使讓阮文紹相信,‘瘋子’尼克松仍然會幫助南方。所以阮文紹被騙了。”

「美國和阮文紹的關係就是這樣發展的:美國最初是越南這個受美國信任的堅定盟友,後來美國開始背著他與北越談判,遇到阻力時,我們就讓他相信美國會繼續幫助他。但事實並非如此。我們欺騙了他,」石內卜告訴BBC

據這位前中央情報局官員稱,阮文紹後來承受的負擔太重,是因為美國一直試圖把他變成一個「更好」的盟友。這裡的「更好」指的是更順從、更聽話。

「他不得不面對美國切斷援助的局面,以及共產黨方面前後矛盾的意圖。所以,回首往事,我真的很欽佩阮文紹總統,儘管他不得不以如此屈辱的方式離開,但他仍然保持著尊嚴,而我不確定自己是否能做到這一點,」斯內普說。

來源:https ://www.bbc.com/vietnamese/articles/cql6xz6nv14o


Tiết lộ của cựu CIA: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bị Mỹ ‘đâm sau lưng’ như thế nào?

BBC

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu, người cầm quyền từ 1967-1975
Chụp lại hình ảnh, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu, người cầm quyền từ 1967-1975

30 tháng 4 2025

“Tổng thống Thiệu bị lợi dụng, bị ép từ chức để Mỹ có thể đàm phán hòa bình với cộng sản. Ông Thiệu khi ấy chỉ là con tốt trên bàn cờ,” cựu CIA Frank Snepp nhớ lại những ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Ông Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn đầy biến động 1967-1975. Ông Thiệu từng là một ứng viên yêu thích của Hoa Kỳ và dần trở thành một “con bài mặc cả” trong việc đàm phán hòa bình với Bắc Việt.

Ngày 21/4/1975, ông Thiệu từ chức và bị ép phải đi lưu vong bốn ngày sau đó.

Nhà phân tích Frank Snepp của CIA được giao nhiệm vụ lái chiếc xe chở cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra phi trường Tân Sơn Nhứt để bay tới Đài Loan và chứng kiến những khoảnh khắc của ông Thiệu trước khi rời Việt Nam:

“Tôi dành sự kính trọng lớn lao dành cho Tổng thống Thiệu. Dù bị buộc rời Việt Nam một cách đầy nhục nhã, phải đối mặt với sự sỉ nhục lớn nhất mà bất kỳ tổng thống nào của một nước phải đối mặt nhưng ông vẫn giữ phẩm hạnh và sự tôn nghiêm khó có ai làm được nếu trong hoàn cảnh đó,” ông Snepp nói với BBC.

Tổng thống thiệu ‘đã khóc’

Frank Snepp là nhà phân tích đứng đầu của CIA về chiến lược của Bắc Việt trong Chiến tranh Việt Nam. Sau khi trở về Mỹ, ông đã viết cuốn sách Decent Interval, với nhan đề ngụ ý về việc Mỹ muốn có một khoảng cách thời gian hợp lý giữa việc rút quân và sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa (khoảng thời gian ‘coi được’), để Mỹ không bị coi là đã bỏ rơi đồng minh hoặc thua trận một cách trực tiếp.

Trong cuốn sách, ông Snepp kể rằng phu nhân Tổng thống Thiệu do quá sợ sẽ có cuộc ám sát xảy ra nên đã rời khỏi Việt Nam, bay qua Bangkok bằng chuyến bay thương mại vào ngày 24/4/1975. Nhưng ông Thiệu lúc đó vẫn chưa muốn rời Việt Nam vì tin rằng mình vẫn còn đóng vai trò nào đó.

Ông nói với người em họ là Hoàng Đức Nhã – cũng là Tham vụ Báo chí của tổng thống – rằng nếu phải ra đi, ông phải “ra đi trong danh dự”. Ông Nhã đã đáp lại bằng sự thúc giục, lo lắng cho sự an nguy của ông Thiệu:

“Không, thưa Tổng thống, giờ không còn thời gian cho danh dự hay sự thù hằn nữa. Ngài phải rời đi ngay.”

Frank Snepp cũng ghi lại trong sách rằng Tổng thống Trần Văn Hương khi đó không thể hình dung được một ngày chính mình phải ép ông Thiệu đi lưu vong và ông sợ rằng những người trung thành của ông Thiệu sẽ trả thù ông một cách tàn bạo. Vì vậy, ông Hương đã đi nhờ Đại sứ Mỹ Graham Martin thực hiện việc này.

Snepp viết rằng, Đại sứ Martin không muốn đứng ra ép ông Thiệu phải đi khỏi Sài Gòn vì ông muốn giữ được tiếng thơm rằng đại sứ quán Mỹ không trực tiếp nhúng tay vào sự sụp đổ chính trị của ông Thiệu.

Đại sứ Graham Martin (bên phải) trình quốc thư lên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chính thức trở thành tân đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam vào tháng 6/1973, thay cho Ellsworth Bunker
Chụp lại hình ảnh, Đại sứ Graham Martin (bên phải) trình quốc thư lên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chính thức trở thành tân đại sứ của Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam vào tháng 6/1973, thay cho Ellsworth Bunker.

Tuy nhiên, lúc đó có một nhân tố quan trọng xuất hiện là Đại tướng Dương Văn Minh. Ông Minh tin rằng việc ông Thiệu còn nán lại Sài Gòn là một chướng ngại cho các toan tính của ông nên đã yêu cầu Charlies Timmes, người của CIA, đảm bảo rằng ông Thiệu sẽ phải lưu vong. Điều này đã củng cố quyết định của Martin.

“Đại sứ Martin và Trưởng trạm CIA Thomas Polgar vẫn tin rằng sẽ đạt được thỏa thuận với cộng sản, đặc biệt là nếu chúng tôi buộc được Tổng thống Thiệu rời khỏi đất nước.

“Chúng tôi nhận được tin từ Hà Nội – một tin tức giả, rằng Bắc Việt sẵn sàng cho phép tòa đại sứ hoạt động ở Sài Gòn sau khi ngừng bắn. Điều đó có nghĩa là có vẻ như Bắc Việt sẽ không xóa sổ miền Nam Việt Nam. Vì vậy, giới lãnh đạo nuôi kỳ vọng vào sáng 25/4 là chỉ cần ông Thiệu biến mất thì một phép màu sẽ xảy ra,” ông Snepp kể lại với BBC.

Chiều tối 25/4, Snepp được giao nhiệm vụ lái chiếc xe hộ tống ông Thiệu ra sân bay Tân Sơn Nhứt để rời Việt Nam trong lặng lẽ, một nhiệm vụ cân não, nguy hiểm bậc nhất vì thời điểm đó, có nhiều người muốn ông Thiệu phải chết.

“Cộng sản muốn thủ tiêu ông Thiệu, ông ấy cũng có những kẻ thù ở Sài Gòn, bao gồm tướng Nguyễn Cao Kỳ và những nhà hoạt động phản chiến người Mỹ.”

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Lyndon B Johnson và Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ chào trong khi Quốc ca Hoa Kỳ và Việt Nam được cử hành trong lễ chào mừng tại Sân bay quốc tế Guam, Agnan, ngày 20 tháng 3 năm 1967
Chụp lại hình ảnh, Từ trái qua: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Lyndon B Johnson và Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ chào trong khi Quốc ca Hoa Kỳ và Việt Nam được cử hành trong lễ chào mừng tại Sân bay quốc tế Guam, Agnan, ngày 20 tháng 3 năm 1967

Snepp, đêm đó lái một chiếc xe với biển số giả đến nhà cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm ở rìa sân bay Tân Sơn Nhứt. Đó là điểm khởi đầu của cuộc hành trình.

“Tôi đứng bên ngoài căn nhà ở điểm hẹn, chờ ông Thiệu đến. Thiệu xuất hiện trong bộ com-lê, tóc vuốt ngược bóng loáng, khuôn mặt hơi bóng dầu. Ông trông như một người mẫu trong ấn bản Quý ông lịch lãm vùng Viễn Đông.

“Vị cựu tổng thống đã uống một chút vì từ người ông tôi ngửi thấy mùi rượu whisky và mùi nước hoa đắt tiền, ông Thiệu đi vào trong dinh thự. Tôi đợi ở ngoài cho đến khi ông bước ra và leo lên băng ghế sau. Cùng đi với Thiệu là người bạn của ông – cựu Thiếu tướng Charles Timmes, người đã giải ngũ và khi đó đang làm việc cho CIA.

“Đoàn có bốn chiếc xe. Xe chở ông Khiêm đi đầu, xe tôi là xe thứ hai, có chiếc xe thứ ba, và tôi nghĩ còn có một chiếc xe thứ tư đi theo sau chúng tôi và đường phố tương đối vắng vẻ, khi đó khoảng 8, 9 giờ tối.

“Khi xe lăn bánh, Timmes và ông Thiệu bắt đầu ôn lại kỷ niệm. Rồi Timmes quay sang giới thiệu tôi với ông Thiệu, nói tôi là nhà phân tích giỏi nhất của Đại sứ quán, và vì thế, ông Thiệu đang được một ‘tài xế siêu hạng’ chở ra phi trường. Tổng thống Thiệu đùa với tôi: Hy vọng anh là tay lái lụa và tôi đáp rằng vâng, lái xe ở Bangkok còn kinh hơn nữa.

“Ông hoàn toàn bình tĩnh, nói chuyện với giọng Pháp. Vị cựu tổng thống là một người sắc bén, thông minh và sáng suốt.”

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

Sau đó, Snepp tiếp tục cầm lái trên con đường tối đen như mực, trong sự im lặng đến rợn người vì lúc bấy giờ, Sài Gòn đã vào giờ giới nghiêm, đường phố chỉ còn những trạm kiểm soát.

Khi đến gần phi trường Tân Sơn Nhứt, đoàn xe đi ngang qua một đài tưởng niệm lính Mỹ tử trận có hàng chữ: “Sự hy sinh cao cả của các đồng minh sẽ không bao giờ bị lãng quên.”

“Tôi nhìn thấy khuôn mặt ông Thiệu qua kính chiếu hậu và thấy ông rưng rưng. Nhiều người không tin và cho rằng ông Thiệu không bao giờ rơi nước mắt, không bao giờ để lộ cảm xúc. Tôi nói với họ: Dĩ nhiên ông ấy đã khóc. Ông ấy là một người có lòng yêu nước vĩ đại và lúc đó ông phải rời bỏ quê hương trong tình cảnh tệ hại nhất.

“Tôi thấy ông Thiệu là một người dũng cảm, không phải là người gục ngã trước biến cố này, mà là người đã thể hiện phẩm giá phi thường trong một thời khắc định mệnh của đời mình,” Snepp thuật lại với BBC.

Khi đoàn xe đến được Tân Sơn Nhứt, toàn bộ khu vực ở đây đã bị cúp điện, làm rõ hơn các vệt đạn lửa của cộng sản bắn trên bầu trời, tiếng súng vẫn vang lên dọc theo vành đai thành phố.

“Lúc xuống xe, ông Thiệu quay lại, bắt tay tôi và cảm ơn vì đã đưa ông đến nơi an toàn. Tôi sửng sốt, không hiểu vì sao ông Thiệu lại cảm ơn mình. Có thể ông ấy đã nghĩ rằng tôi sẽ giết chết ông nên cảm ơn vì điều đó đã không xảy ra. Bởi lẽ, Thiệu không thể nào biết chúng tôi là ai, mà chỉ có một lựa chọn là phải tin rằng người Mỹ sẽ cứu và đưa ông đến chốn an toàn.”

Sau đó, ông Thiệu đã bước lên máy bay ngay lập tức, Đại sứ Martin đã có mặt sẵn ở đó để nói lời tạm biệt.

“Khi ông Thiệu mất hút vào lòng máy bay, ông đại sứ bước xuống khỏi bậc thang nối lên máy bay, ông cúi người, túm lấy cái cầu thang đó và giật phăng nó ra khỏi chiếc máy bay, như thể ông đang cố gắng cắt đứt sợi dây cuối cùng gắn kết người Mỹ với chính sách định mệnh này. Và thế là vị cựu tổng thống rời khỏi Sài Gòn.”

Frank Snepp, "tai lái hạng sang" đưa cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến phi trường Tân Sơn Nhứt. Ông là chuyên gia phân tích chiến lược của CIA từng hoạt động tại miền Nam Việt Nam trong thời chiến
Chụp lại hình ảnh, Frank Snepp, “tai lái siêu hạng” đưa cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến phi trường Tân Sơn Nhứt. Ông là chuyên gia phân tích chiến lược của CIA từng hoạt động tại miền Nam Việt Nam trong thời chiến.

Từ đồng minh thân cận đến ‘bị đâm sau lưng’

Quay lại khoảng thời gian ngay sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ năm 1963, Nam Việt Nam rơi vào vòng xoáy bất ổn của các cuộc đảo chính và phản đảo chính, khi hết vị tướng tham vọng này đến vị tướng mưu mô khác tìm cách lợi dụng tình trạng bất ổn chính trị để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Đến năm 1967, nhờ vào gợi ý của Daniel Ellsberg – một nhà phân tích quân sự trẻ tuổi của Mỹ nên chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định dồn sự ủng hộ cho một ứng viên. Đó là một vị tướng miền Nam khiêm tốn, được cho là phi chính trị tên là Nguyễn Văn Thiệu, nhằm chấm dứt tình trạng hỗn loạn.

Khi ông Thiệu được bầu làm tổng thống vào cuối năm đó, nhân vật có thực quyền trong chính trường vẫn là Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ. Tuy nhiên, Mỹ đã từ từ loại bỏ sức ảnh hưởng của ông Kỳ bằng cách chuyển tất cả các vấn đề chính sách cho riêng ông Thiệu.

Một số đồng minh quyền lực nhất của ông Kỳ đã thiệt mạng vào dịp Mậu Thân 1968, khiến Mỹ càng quyết tâm củng cố quyền lực cho ông Thiệu bằng mọi giá, để họ có thể bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam mà không lo ngại sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới.

“Ban đầu ông Thiệu có khả năng quy tụ được các phe phái khác nhau trong nước. Ông được xem là kiên định, có thể hàn gắn những chia rẽ giữa Công giáo và Phật giáo. Nhưng khi Mỹ kết luận ‘Việt Nam hóa chiến tranh’ đã thất bại và thực tế là Nam Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng tự mình chiến đấu thì Tổng thống Thiệu bắt đầu bị xem là kém hiệu quả.”

“Thời điểm đó, Hoa Kỳ bắt đầu nghiêm túc đàm phán hòa bình sau lưng ông Thiệu từ năm 1970 và có một thỏa thuận vào tháng 10/1972 nhưng chưa bao giờ nói cho ông Thiệu biết chuyện gì đang diễn ra. Ông Thiệu bị gạt ra lề ngay trong vai trò người kiến tạo hòa bình tại chính đất nước mình. Mọi chuyện trở nên hỗn loạn. Tổng thống Thiệu từng là một ứng cử viên đại diện cho sự đoàn kết, nhưng đến năm 1968, hình ảnh đó bắt đầu sụp đổ,” ông Snepp phân tích.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đi cùng Hòa hượng Thích Tâm Châu trong Thánh lễ cầu siêu cho Ngày cầu siêu toàn quốc vào năm 1968
Chụp lại hình ảnh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đi cùng đại lão hòa thượng Thích Tâm Châu trong Thánh lễ cầu siêu cho Ngày cầu siêu toàn quốc vào năm 1968

Cụ thể là cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 của cộng sản và những thắng lợi ban đầu về mặt chính trị đó đã khiến cho ông Thiệu mất dần tín nhiệm trong mắt Hoa Kỳ.

“Vào tháng 10 năm 1970, Nixon tiết lộ rằng Mỹ thực sự đã mất niềm tin vào ông Thiệu một phần vì ông quá dễ dãi, dung túng chuyện tham nhũng, phần khác vì ông ta đã đưa quá nhiều người thân tín vào các vị trí then chốt, khiến chính quyền miền Nam yếu đi.

“Lúc đó, Nixon bắt đầu nói đến việc thương lượng với miền Bắc và đã có các cuộc đàm phán bí mật, bao gồm ngừng bắn ngay tại chỗ, cho phép quân đội Bắc Việt vẫn ở lại miền Nam. Điều này nghĩa là Mỹ càng mất tín nhiệm nơi ông Thiệu,” ông Snepp nói.

Theo lời ông Snepp, ông Thiệu biết được mình bị “đâm sau lưng” nhờ vào tình báo từ điệp viên Võ Văn Ba của CIA.

Ngày 18/10/1972, Ngoại trưởng, Cố vấn an ninh Mỹ Henry Kissinger tới Sài Gòn và mang theo bức thư của Tổng thống Nixon giải thích cặn kẽ về kết quả tốt đẹp của việc đàm phán tại Paris qua bản sơ thảo hiệp định, trong đó có việc cho quân Bắc Việt ở lại miền Nam.

Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Ngoại trưởng, Cố vấn an ninh Henry Kissinger tại Dinh Độc lập vào ngày 17/8/1972
Chụp lại hình ảnh, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu (phải) và Ngoại trưởng, Cố vấn an ninh Henry Kissinger tại Dinh Độc lập vào ngày 17/8/1972

Sau đó, ông Thiệu đã phản đổi rất gay gắt, nhất quyết không ký và khiến cuộc đàm phán sụp đổ.

“Lúc đó, tôi nghĩ ông Thiệu đang hành động độc lập vì lợi ích của Sài Gòn, ông dám thách thức Hoa Kỳ. Và tháng 12 năm đó, Nixon cho ném bom Hà Nội, một trong những chiến dịch oanh tạc dữ dội nhất của cuộc chiến.

“Đó là một thông điệp gửi đến hai bên: cho Bắc Việt biết rằng họ phải trở lại bàn đàm phán và cho ông Thiệu biết rằng Hoa Kỳ vẫn ủng hộ ông,” Snepp phân tích với BBC.

Sau đó, ông Thiệu đã đồng ý trở lại bàn đàm phán và chấp nhận Hiệp định Paris nhưng vị tổng thống không mang bất kỳ ảo tưởng nào về đồng minh Hoa Kỳ. Theo lời của ông Snepp, đại sứ cuối cùng của Mỹ tại Sài Gòn – ông Graham Martin – đã nói dối ông Thiệu rằng Mỹ sẽ vẫn giúp miền Nam, rằng Tổng thống Nixon sẽ dội bom Hà Nội nếu cần.

Hiệp định Paris
Chụp lại hình ảnh, Hiệp định Paris được ký ngày 27/1/1973

Tuy nhiên, Đại sứ Martin đã nói dối vì Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Quyền Chiến tranh vào tháng 11 năm 1973, qua đó hạn chế quyền hạn của tổng thống Mỹ trong việc khởi xướng hoặc leo thang các hành động quân sự ở nước ngoài.

“Hoa Kỳ không bao giờ có thể đưa B52 trở lại. Nhưng Đại sứ Martin đã khiến ông Thiệu tin rằng ‘gã điên’ Nixon vẫn sẽ giúp miền Nam. Vì vậy, ông Thiệu đã bị đánh lừa.

“Và đó chính là tiến trình mối quan hệ giữa Mỹ và ông Thiệu: từ một đồng minh kiên định được Mỹ tin tưởng, Mỹ bắt đầu đàm phán với Bắc Việt sau lưng ông và khi vấp phải phản đối, chúng tôi khiến ông ấy lầm tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục giúp đỡ. Nhưng đó không phải sự thật. Chúng tôi đã lừa dối ông ấy,” ông Snepp nói với BBC.

Theo cựu CIA, những gì mà ông Thiệu phải gánh vác về sau là quá nặng nề bởi lẽ Mỹ lúc nào cũng tìm cách biến ông thành một đồng minh ‘tốt hơn’. Tốt ở đây nghĩa là biết nghe lời, tuân lệnh hơn.

“Ông ấy phải đối mặt với việc Mỹ cắt viện trợ, với những tín hiệu xung đột nhau về ý định của phía cộng sản. Vậy nên, nhìn lại, tôi thật sự rất khâm phục Tổng thống Thiệu, dù phải ra đi trong ê chề nhục nhã, ông vẫn giữ được sự tôn nghiêm theo cách mà tôi không chắc bản thân mình có thể làm được,” Snepp chia sẻ.

Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cql6xz6nv14o

留言