第二十一章 前哨司令(第445页)
以下是 第21章(前哨司令)的中文重点总结,随后附 全文中文翻译。
(P463)
- 歷史事件:越南共和國總統慰勞軍隊。
- 具體時間:1971 年3 月。
- 軍事行動:藍山行動(Hành quân Lam Sơn)。
- 圖片來源:UPI/Bettmann Archive,攝影師為David Hume Kennerly。
- 464 • 阮進興
- 總統紹慰勞參與藍山行動的越南共和國軍隊,1971 年3 月。 (圖:UPI/Bettmann Archive,David Hume Kennerly 攝)
- 人物與場合:阮文紹總統當時正在大叻軍官學校參加畢業典禮。
- 影像來源:此照片由美聯社(Associated Press)拍攝。
- 書本脈絡:影像上方顯示書名為《總統阮文紹的心思》(Tâm tư Tổng thống Thiệu),頁碼為465。
- 總統阮文紹參加大叻軍官學校畢業典禮(大叻軍官學校;美聯社)。
- 總統阮文紹的心思465
先用中文寫出重點,在整篇翻譯成中文
CHƯƠNG 21
Tư Lệnh Tiền Đồn(445)
Hai chữ “trung lập nghe thật chói tai TT Johnson: “Ông
phải có thể giải thích tại Sàigòn rằng sứ mệnh của
ông chính là để dẹp ngay cái ý tưởng trung lập ở bất
cứ chỗ nào cái đầu xấu xí của nó nhô ra” (“lt ought to be
possible to explaIn in Saigon your mission 1s precIsely for the
purpose of knocking down the Idea of neutralization whenever it rears its uply head”), ông chỉ thị Đại sứ Lodge. Ông
Johnson còn nhất quyết đến mức thêm rằng: “về điểm này,
tôi nghĩ không có gì quan trọng hơn là ngừng ngay những bàn
cãi về trung lập ở bất cứ nơi nào có thể và với bất cứ phương
tiện nào có thể” (On this point I think that nothing is more
important to stop neutralist talk whenever we can by what ever means we can).(l)
******
- “Anh cho tôi biết tại vì lý do gì mà chúng tôi bị bắt;
Tướng Đôn hỏi Tướng Khánh, “và sao lại giữ chúng tôi ở đây?
Các anh buộc chúng tôi tội gì?”.
- “Tội trung lập,” ông Khánh trả lời.(2)
Trung tướng Trần Văn Đôn là một trong năm tướng bị bắt
và giam giữ ở Đà Nẵng trong cuộc chỉnh lý đầu năm 1964.
Đại tướng Nguyễn Khánh là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân
Cách mạng. Lúc ấy ông Khánh rất hăng hái chống khuynh
hướng “trung lập' đang có mầm mống nảy nở. Hai tháng sau,
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara từ Sàigòn trở về Washington để nghị với Tổng thống Johnson một chương trình hành
động đại quy mô đặt mục tiêu của Hoa Kỳ tại Miền Nam Việt
Nam là mục tiêu để phòng vệ chung toàn miễn Đông Nam Á
và miền Tây Thái Bình Dương: “Chúng ta mưu cầu một Miền
Nam độc lập không Cộng sản vì... trừ phi chúng ta đạt được
mục tiêu này ở miễn Nam Việt Nam, hầu hết Đông Nam Á sẽ
rơi vào vòng thống trị của Cộng sản.' (xem Chương 13)
Thế Giới Tự Do
Miền Nam Việt Nam tiếp tục đóng vai trò là “tiền đồn của
Thế giới Tự Do' tại Á Châu. Muốn mưu cầu một nước độc
lập, không cộng sản thì phải dẹp ngay cái khuynh hướng
“trung lập.
Không còn nghi ngờ gì nữa, từ tháng 4, 1964 trở đi là hết
nói đến chuyện “trung lập. Nhất thiết phải đứng hẳn về phía
Tự Do. Để đối lại, Thế giới Tự do cũng chứng minh lập trường
cứng rắn của mình bằng những hành động cụ thể: từ 'Mũi tên
xuyên' (Plerce Arrow, tháng 8, 1964,), tới “Phi tiêu lửa' (Flam-
¡ng Dart, tháng 2, 1965), tới đổ bộ Đà Nẵng (tháng 3, 1965).
Rồi ngày 17 tháng 4, 1965 Tổng thống Johnson tuyên bố không
úp mở: “Chúng tôi sẽ ở lại Miền Nam bao nhiêu lâu còn cần
thiết” (We will remain as long as necessary). Ông còn nhấn
mạnh là Hoa Kỳ sẽ hành động “Với sức mạnh cân thiết, với
bất cứ nguy hiểm nào, và với bất cứ phí tổn nào” (with the
might that 1s required, whatever the risk and whatever the
cos0(3) (cũng giống như TT Bush thường tuyên bố về Irag:
“We will stay the course” hay như TT Kennedy trước đó: '“lo
bear any burden”).
Ngoài quân đội Mỹ, các nước trong khối Tự do như Úc,
Tần Tầy Lan, Đại Hàn, Thái Lan, Phi Luật Tân, Đài Loan còn
tiếp thêm gần 53,000 quân nữa. Nhiều nhất là quân đội Đại
Hàn: gần 46,000 người.(4) Tổng thống Park Chung Hee còn
giúp xây “Xa Lộ Đại Hàn' (ông Thiệu để hình ông Hee trong
phòng làm việc). Quân đội vào thì phải xây cất những căn cứ
quân sự thật lớn như Đà Nẵng, Cam Ranh.
Tư lệnh Tiền đồn
Chính trong khung cảnh ấy, ông Nguyễn Văn Thiệu lên
vai trò lãnh đạo. Ngày 19 tháng 6, 1965, ông được Hội đồng
Quân lực bầu làm Chủ tịch Ủy Ban Lãnh đạo Quốc gia
(UBLĐQG). Kể cả chức Chủ Tịch UBLĐQG và chức Tổng
thống, ông Thiệu đã lãnh đạo VNCH gần mười năm. Trong
chức vụ ấy thì gián tiếp, ông cũng là “Tư lệnh Tiền đồn' của
Thế giới Tự Do tại vùng Đông Nam Á.
Nhìn lại về thời gian ấy, có thể rằng ông đã chia sẻ suy
nghĩ của mình với một số cộng sự viên và phần nào được
phần ảnh trong bài phỏng vấn như ghi lại trong chương trước
(Chương 20). Riêng phần chúng tôi, qua thời gian làm việc và
đặc biệt là trong những cuộc đàm đạo sau này thì cũng được
nghe ông nói thêm. Bởi vậy, theo như cảm nhận về tâm tư của
ông, nơi đây chúng tôi thấy cũng nên viết thêm cho rõ hơn về
một số trong những sự việc đã làm cho ông mãn nguyện cũng như những điều làm ông ưu phiên, tóm tắt như sau:
Ông tỏ vẻ mãn nguyện về ba lãnh vực:
e_ Xây dựng một quân đội hùng mạnh;
e_ Phát triển kinh tế và xã hội ở nông thôn; và
e«_ Giữ được tư cách, phẩm giá của con người Việt Nam.
Và trăn trở về:
Chính sách không nhất quán của Mỹ;
Những cáo buộc nặng nề “ông Thiệu cản trở hòa bình”;
Không để Miền Nam trực tiếp điều đình với Miền Bác; và
Trăn trở về “chữ tín”
Mãn nguyện về Ba lãnh vực:
Xây dựng một quân đột hùng mạnh
Ông rất hãnh diện là với sự yểm trợ của Tổng thống Nixon
trong chương trình “Việt Nam hóa" ông đã xây dựng được một
quân đội hùng hậu. Chỉ trong ba, bốn năm mà đã có thể bảo
vệ tiền đồn của Thế giới Tự Do trong khu vực Đông Nam Á
nếu như được cung cấp đủ tiếp liệu. Ông cho rằng không những
bảo vệ Miễn Nam, mà trong thực tế chính quân đội ấy đã
giúp mua được thêm thời gian cho các nước khác ở trong khu
vực như Thái Lan, Mã Lai Á, Indonesia, Phi Luật Tân để củng
cố, phát triển. Về điểm này thì trong thời gian qua, những
quan niệm bất công và sai lâm về: Quân đội VNCH đã dần
dẫn được cải thiện. Tác giả Douglas Pike trong những số tham
luận “Indochina Chronology' và Lewis Sorley trong cuốn “A
Berrer War` cũng như bài “Đánh giá lại Quân đội VNCH' đã
đưa ra những bằng chứng sử liệu để chứng minh những nhận
xét sai lầm của hệ thống truyền hình Mỹ, Hollywood, một số
học giả thiên tả và phong trào phản chiến.
Về quân đội VNCH, Tổng thống Thiệu hay nói tới những
chỉ trích bóp méo của phía Mỹ về sự thất bại trong cuộc hành
quân “Lam sơn 719” sang Lào (tháng 2, năm 1971), một cuộc hành quân rất quan trọng vì Mỹ coi đó là để thử lửa, trắc
nghiệm hiệu quả của chương trình Việt Nam Hóa. Trong bài
phỏng vấn in trong chương trước, ông cũng đã nói tới chuyện
này. Nơi đây chúng tôi ghi thêm vài điểm.
Đường mòn Hồ Chí Minh bên Lào là tuyến chuyển quân
quan trọng nhất từ Bắc Việt dài gần 1500 dậm. Đã từ bao
nhiêu năm, Hoa Kỳ và VNCH hết sức lo ngại về tuyến này,
vừa là đường tiếp tế, vừa là chiến khu cho lực lượng Cộng sản
tại Miễn Nam. Năm 1972, TT Nixon muốn ngăn chận tuyến
này nhưng Quốc hội Hoa Kỳ đã cấm không cho Mỹ được tiến
quân quá biên giới Việt Nam. Hoa Kỳ yêu cầu quân lực VNCH
mở một cuộc hành quân đánh thẳng vào những căn cứ hậu
cần ở Tchepone bên Lào. Tchepone là một tỉnh nhỏ nằm cạnh
Quốc lộ 9 nối từ Đông Hà (dưới vỹ tuyến 17) tới tỉnh
Savannakhet ở biên giới Lào-Thái. Cuộc hành quân Lam Sơn
lấy tên từ chiến thắng lịch sử ở Chi Lăng năm 1427 khi nghĩa
quân đất Lam Sơn đánh bại đạo quân xâm lược của nhà Minh.
Ông Thiệu nói là ông muốn đánh lạc hướng Bắc Việt nên
đã để nghị với Mỹ cho ông di chuyển một sư đoàn ra Bắc
Việt, phía trên vỹ tuyến 17 gần Vinh, nhưng Mỹ không chấp
thuận. Ông cho rằng chiến thuật này chắc chắn sẽ đảm bảo
được thắng lợi tại Tchepone vì bắt buộc BV phải giữ lại thêm
nhiều sư đoàn tại miền Bắc.
Tin tức về cuộc hành quân này đã lộ ra từ trước nên hết
yếu tố bất ngờ. Ngày 1 tháng 2, một tuần trước khi bắt đầu,
Thông tấn Pháp đã tiên đoán quân đội Miền Nam sẽ tấn công
sang Lào.(6) Bắc Việt đưa thêm quân trừ bị và đổ vào chiến
trường tới gần 36 ngàn quân, kể cả hai sư đoàn thiết giáp
được trang bị với xe tăng Nga Xô để chiến đấu với lực lượng
tấn công của miền Nam chỉ gồm có 25 ngàn người. Bất cứ
quân miền Nam di chuyển tới nơi nào, là quân đội Bác Việt
đã chờ sẵn ở đó để phục kích. TT Thiệu kể lại là trong cuộc
hành quân này, Hoa Kỳ hứa sẽ yểm trợ quân đội VNCH về
tiếp liệu và tải thương bằng trực thăng, nhưng sau ba ngày vì bị nhiễu thiệt hại về trực thăng nên đã thất hứa! Nhận thấy đã
bị sa lầy và Mỹ thất hứa, ông ra lệnh cho tướng Hoàng Xuân
Lãm, tư lệnh cuộc hành quân cứ tiến chiếm Tchepone nhưng
không cố thủ ở đó, vì ông sợ một Điện Biên Phủ thứ hai: “lực
lượng của mình sẽ bị cầm chân tại một nơi bất khả bảo vệ và
A“»% không có đường tiếp tế” Bởi vậy, ông đã chỉ thị cho tướng Lãm:
“Anh vào Tchepone đái một cái rồi ra ngay. ”
Mặc dầu Mỹ cho là thất bại và tổn thất lớn, ông vẫn tự hào
về khả năng chiến đấu và tinh thần của quân đội VNCH. Chính
Henry Kissinger cũng phảẩi công nhận rằng Tướng
Westmoreland đã ước tính là cần tới 4 sư đoàn Mỹ để tấn
công và giữ được Tchepone, trong khi VNCH đã chỉ có thể sử
dụng không đầy hai sư đoàn.(6) Trong cuộc phỏng vấn với
chúng tôi vào ngày 13 tháng I1, 1985, chính Tướng Alexander
Haig là người được TT NÑixon phái sang Việt Nam ngay giữa
thời gian Lam Sơn đã phải phàn nàn rằng “vai trò của Mỹ là
hướng dẫn và yểm trợ đã không được hoàn thành vì những
thủ tục hành chính rối ren ở Ngũ Giác Đài”
Ngoài quân đội chủ lực, TT Thiệu tự hào là đã phát triển
thành công một lực lượng địa phương quân. Ông đã đủ tự tin
để có thể trang bị cho họ toàn bộ súng đạn. “Tuần vừa qua, tôi
đi duyệt một lực lượng nhân dân tự vệ là năm nghìn người.
Mỗi người đều mang cây súng nạp đây đạn...,” ông nói với
nhà báo FallacI.(7)
(P450)
先用中文寫出重點,在整篇翻譯成中文
Phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn
Ngoài lãnh vực quốc phòng, phát triển nông thôn sau khi ổn định là một lãnh vực yên ủi ông rất nhiều vào cuối đời. Về những tiến bộ ở nông thôn, chính TT Nixon đã khen ngợi và còn báo cáo cho Quốc Hội Mỹ những chỉ số như sau: năm 1969 chỉ có khoảng 40% người dân là dưới quyền kiểm soát
hoàn toàn của chính phủ VNCH; 50% sống ở những vùng còn tranh chấp; và 10% ở những vùng do Cộng sản kiểm soát.
Đến năm 1971 thì số người dân nông thôn dưới quyển kiểm
soát của chính phủ đã lên 73%. Cuối năm ấy, trong tổng số 44
tỉnh thì sự kiểm soát của chính phủ thấp hơn 60% ở bảy tỉnh,
so với 15 tỉnh cuối 1970.(8) Độc giả lưu ý là hiện nay (2010)
Tướng Stanley McChrystal, Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ và Đồng
minh ở Afghanistan đang nghiên cứu kinh nghiệm ở VNCH
để áp dụng vào chiến lược “dẹp Taliban rồi giữ luôn khu vực?
(clear and hold strategy).
Về phát triển nông thôn thì chúng tôi sẽ để cập tới trong
hai chương kế tiếp.
Giữ được tư cách phẩm giá của con người Việt Nam
Đối với đồng minh, dù không nói thẳng ra, ông đã tự hào
là giữ được tư cách, phẩm giá của người lãnh đạo, và của
chính con người Việt Nam. Việc nhỏ thì tôi nhớ đến chuyện
ông tự đi lấy một cái ghế để ngồi ngang ông Nixon trong phòng
họp tại Midway. Việc lớn thì tôi nhớ tới điều ông nói về những
khó khăn, nguy hiểm trong việc cưỡng lại áp lực nặng nề của
Hoa Kỳ. Thời Tổng thống Johnson, ông nhất định chỉ đàm
phán với chính phủ Hà Nội chứ không ngồi chung với Mặt
Trận Giải Phóng. Ông kể là lúc đi xe từ Dinh Độc Lập tới
Quốc hội để tiết lộ quyết định này (ngay trước bầu cử Mỹ),
ông rất lo bị ám sát nên đã ngồi ở ghế phía trên, cạnh tài xế
chứ không ngồi chỗ của tổng thống ở băng sau.
Dưới thời Tổng thống Nixon thì mọi việc đã rõ ràng. Dù bị
hăm dọa: “xin ông chớ để cho hoàn cảnh 1963 tái diễn, ” ông
Thiệu vẫn cứ cầm cự cho tới khi nhận được những cam kết -
trên giấy trắng mực đen, đánh máy, viết tay, đủ kiểu.
Ngày nay thì đã rõ ràng là ông không phải “bù nhìn của
Mỹ”, mà trái lại đã cố gắng hành động độc lập, giữ được tư
cách của một lãnh đạo. “Người Mỹ muốn chúng tôi chỉ là
những kẻ để sai bảo (Yes-men),” TT Thiệu nói với nhà báo phỏng vấn ông, “Nhưng tôi không phải là kẻ để sai bảo và
người Nam Việt Nam không phải là dân tộc để sai bảo; Quốc
hội của chúng tôi không phải là Quốc hội để sai bảo... ” (xem
Chương 20).
***%
Đến lúc Miền Nam cạn kiệt về mọi mặt, phái đoàn Quốc
Hội Mỹ tới Sàigòn cuối tháng hai, 1975 để xem xét về quân
viện. Ông Thiệu cũng vẫn cố giữ cái nhân cách: ông không
năn nỉ mà còn phát biểu với phái đoàn trong bữa cơm tạm biệt
tại Dinh Độc Lập: “Tôi xin phép được nhắc lại ở đây ý nghĩa
của một câu ngạn ngữ Việt Nam “Quà tặng đã quan trọng,
nhưng cách tặng quà còn quan trọng hơn nhiều'.” Tôi ngồi
nghe tái mặt, chỉ sợ ông nói thêm. Cuối cùng ông chỉ yêu cầu
là Hoa Kỳ cho vay thêm chút ít để cầm cự qua ngày cho tới
khi xuất cảng được dầu lửa sắp lên từ ngoài khơi.
Những trăn trở còn lại
© Chính sách không nhất quán của Mỹ
Trong Chương 13, chúng tôi đã đề cập tới “TT Johnson
quyết chiến mà chẳng quyết thắng'. Đến thời Tổng thống
Nixon thì thoạt đầu Hoa Kỳ cũng tỏ ra cương quyết lắm. Gặp
ông Thiệu lần đầu tiên tại đảo Midway, ông Nixon nói: "Help
me to help you” (Hãy giúp tôi để tôi giúp Ngài). Giúp như thế
nào? Giúp hai việc: hứ nhất là giúp Nixon rút vài sư đoàn trong
số trên một nửa triệu quân để làm địu áp lực phản chiến; rh⁄
hai là giúp ông đàm phán một hòa bình với danh dự. Ngược lại,
ông Nixon hứa sẽ giúp Miễn Nam tối đa trong cả hai nhiệm kỳ:
4 năm Việt Nam hóa quân đội, và 4 năm phát triển kinh tế, xây
dựng trong hòa bình. Thật là rõ ràng, dứt khoát.
Vì biết trước là TT Nixon muốn gặp ông để nói đến việc
rút quân, cho nên để giữ thể diện, ông nắm thế chủ động và
đề nghị trước là Hoa Kỳ có thể “tái phối trí” các lực lượng Mỹ.Việc tự đề nghị trước để giữ thể diện là hành động điển hình
của ông Thiệu. Ông thường hay nói đến hai chữ “preempiive
move” - đi bước trước - (xem Chương 13). Ông nói với ông
Nixon là Mỹ có thể xem xét để rút đi một phần ba số quân
của Sư đoàn 3 ở Quân Khu I, và Sư đoàn 6 ở Miền Đồng Bằng
(Cửu Long), tất cả là khoảng 22,000 tới 25,000 quân”? Nghe
vậy, Tổng thống Nixon hết sức vui vẻ.
Theo như Phụ Tá Nguyễn Phú Đức, người có mặt tại buổi
họp đã ghi lại, TT Nixon còn nói về cá nhân ông Thiệu: “Ông
là người duy nhất có thể lãnh đạo Việt Nam. ”(9) Tâng bốc sự
lãnh đạo của ông Thiệu là điều ông Nixon luôn nhắc tới như
chúng tôi để cập trong Chương 13.
Sau cuộc họp, hai Tổng thống tuyên bố trước báo chí:(10)
TT Nixon:
“Theo để nghị của TT Thiệu và thẩm định của tư lệnh
chiến trường Hoa Kỳ, tôi đã quyết định ra lệnh tái phối trí
một sư đoàn tương đương 25,000 quân khỏi Việt Nam...
việc thay thế số quân (replacement) sẽ bắt đầu nội trong
30 ngày, ...và rỗi vào từng thời điểm đều đều, chúng tôi
sẽ xem xét tình hình dựa theo ba điều kiện:
thứ nhất, tiến bộ về đào tạo và võ trang cho quân lực
VNCH;
thứ hai, tiến bộ tại hòa đàm Paris; và
thứ ba, mức độ tấn công của địch quân.”
TT Thiệu:
“Tôi đã tuyên bố nhiều lần trong mười hai tháng qua rằng
mục tiêu liên tục của Chính phủ VNCH là muốn chia sẻ
nhiều hơn nữa về cuộc đấu tranh để bảo vệ tự do tại Việt
Nam và làm nhẹ bớt gánh nặng mà Hoa Kỳ đã hào hùng
chấp nhận trong cuộc chiến này. Trong những tháng qua,
việc củng cố quân đội VNCH qua chương trình tổng động
viên cùng với những tiến bộ nhanh chóng về bình định và phát triển nông thôn đã cho phép tôi được tHông báo cho
TT Nixon rằng từ nay quân đội VNCH có thể bắt đầu quá
trình thay thế cho quân đội Hoa Kỳ”
(Nơi đây, độc giả nên để ý rằng: khi nào Hoa Kỳ muốn rút
quân ở đâu thì bao giờ cũng muốn làm hai việc:
Thứ nhất là để tự người lãnh đạo ở đó “yêu cầu rút quân”
như trường hợp đã xảy ra ở lraq: trước áp lực mạnh mẽ tại
Quốc hội Hoa Kỳ đòi rút quân ngay khỏi Iraq, ngày 14 tháng
7, 2007 Thủ tướng Nouri al-Maliki tuyên bố là quân lực và
cảnh sát Iraq có thể tiếp tục giữ được an ninh khi quân đội
Hoa Kỳ rút khỏi Iraq “bất cứ lúc nào họ muốn, tuy nhiên quân
đội Iraq vẫn còn cần thêm khí giới và đào tạo;”
Thứ hai, khi rút thì Tổng thống Hoa Kỳ thường nói là “theo
sự nhận xét và thẩm định của tư lệnh chiến trường' thì chúng
tôi thấy đã tới lúc có thể “tái phối trí hoặc “giảm quân, hoặc
“ta đã có thể có được một cuộc triệt thoái đàng hoàng' (responsible exIt)).
Ở Midway, TT Nixon tuyên bố là tiến trình rút quân phải
tùy theo ba điều kiện. Nhưng tuyên bố thì cứ tuyên bố, trong
thực tế cứ rút cho thật nhanh. Tới hè 1972 thì số quân đội Mỹ
trên một nửa triệu đã rút gần hết, chỉ còn lại 45,600 người. Dù
sao, vẫn còn không lực yểm trợ nên tháng 9, 1972, quân đội
VNCH còn lấy lại được Quảng Trị. Thế rồi vào ngay lúc đang
chiến thắng thì áp lực đã tới để ông Thiệu phải chấp nhận giải
pháp “da beo'.
® Những cáo buộc nặng nề
Ông Thiệu đã cố thủ cho tới khi TT Nixon đi tới chỗ có thể
nói là tàn nhẫn. Nơi đây, chúng tôi xin bổ túc những trích dẫn
đã viết trong cuốn KĐMTC và trong những chương trước bằng
một vài phần đoạn trong các văn thư tiếng Anh để độc giả
cảm thông thêm về tâm tư của người lãnh đạo Miễn Nam:
e Đặt trách nhiệm phá vỡ cả mười năm tranh đấu vào
vai ông Thiệu:
“Tôi tin chắc việc Ngài từ chối tiếp tay với chúng tôi sẽ là
một sự chuốc lấy thẳm họa - nó sẽ phá hủy tất cả những
gì mà chúng ta đã càng nhau tranh đấu để đạt được trong
mười năm qua, ” (thư ngày 5 tháng I1, 1973);
e Hăm dọa sẽ đối chất và tố cáo ông Thiệu cần trở hòa
bình (thư ngày 8 tháng 6, 1973):
*“ Trong lá thư Ngài có nói đến việc giải thích lập trường
của Ngài trước công luận. Tôi xin nhắc để Ngài nhớ rằng
lập trường đó đã chống lại bản văn kiện chúng ta đã đồng
ý. Không như lần trước hồi tháng 10, 1972, lần này chúng
tôi sẽ chống lại và không ủng hộ lập trường của Ngài nữa
đâu. ”
e Thẳng tay bác bỏ: ngày 10 tháng 6, 1973 TT Nixon
viết:
“ Tôi nhất quyết bác bỏ lập luận của VNCH cho rằng bản
Tuyên Cáo sẽ gây thảm họa cho nước Ngài. Tôi coi đó là
một phỉ báng vô căn cứ đối với công cuộc thương thuyết
dưới sự chỉ đạo của tôi và bao gồm cả những đề nghị của
Ngài. Nếu luận điệu đó được nhắc lại một cách công khai,
tôi sẽ thẳng tay bác bỏ những vu cáo của Ngài... Tôi tin
rằng Ngài sẽ không nông nổi và coi nhẹ hậu quả của nó
đối với sự bang giao giữa chúng ta. ”
TT Thiệu hết sức bất mãn vì đã phải ký bản Hiệp định hồi
tháng 1, 1973 bây giờ lại phải ký thêm một bản “Tuyên Cáo"
nữa về quyền của Bắc Việt được di chuyển quân cụ qua vùng
phi quân sự (DM2) ở vĩ tuyến 17. Ngày 12 tháng 6, 1973 ông
viết thư cho TT Nixon để phân trần nhưng cũng không có kết
quả.
e Thôi, đừng dài dòng nữa, ông Nixon viết lại, bây giờ
đã tới lúc “vấn đề (trở nên) trực tiếp giữa tôi và Ngài,
sự lựa chọn là do Ngài” Rồi ông hăm dọa là sẽ cáo
buộc ông Thiệu “cố tình chấm dứt mối bang giao hiện
hữu giữa hai chính phủ Hoa Kỳ và VNCH” (thư ngày 13 tháng 6, 1973).
Cáo buộc ông Thiệu “cố tình chấm dứt mối bang giao ViệtMỹ; thì thật là nặng nể. Chỉ đọc lại một vài phần đoạn như
trên ta cũng có thể hiểu được là tại sao có lần TT NÑixon còn
nói với ông Kissinger:
% Tôi không biết liệu lời đe dọa này có đủ mạnh hay không,
nhưng tôi sẽ làm bất cứ điều gì, hoặc cắt đầu tay này nếu
cần thiết ” (cut ofƒ hỉs head)? necessar)).
Đây là một cuốn Đăng mới được giải mật vào tháng 6,
2009 ghi những bàn luận của TT Nixon trong phòng làm việc
bầu dục Tòa Bạch Ốc vào tháng I1, 1973. Cũng may mà ông
Thiệu không hay biết câu này lúc còn sống, vì nếu vậy thì
ông còn xót xa thêm biết bao nhiêu!
© Không để Miền Nam trực tiếp điều đình với Miền Bắc
Ông Thiệu cho rằng “Hoa Kỳ đã Mỹ hóa cả hòa bình, không
bao giờ để cho Miễn Nam điều đình thẳng với Miền Bắc.
Nghiên cứu thêm thì chúng tôi thấy thực ra ông cũng đã có
những cố gắng để đàm phán thẳng với Hà Nội, nhưng Hoa Kỳ
không yểm trợ, lại còn cần lại. Ngay từ thời Johnson, Hoa Kỳ
đã một mình leo thang đàm phán (Xem Chương 13). Chỉ thị
của Tòa Bạch Ốc ngay từ 1964 (ngày 29 tháng 11) là: “Hoa
Kỳ sẽ cảnh giác tới những dấu hiệu nhượng bộ của Hà Nội và
sẽ sẵn sàng thăm dò những giải pháp đàm phán để tới được
những mục tiêu của mình một cách thỏa đáng.” Bởi vậy,
“Hoa Kỳ sẽ tìm cách điều khiển bất cứ việc thương thuyết nào và sẽ chống lại bất cứ cố gắng riêng rẽ nào của Miền
-?7 #*°^ ` Nam để điều đình. ”(11)
(“The U.S. would be alert to any sign of yielding by Hanoi,
and would be prepared to explore negotiated solutions that
attain U.S. obJectives in an acceptable manner. The U.S., would
seek to control any negotiations and would oppose any independent South Vietnamese efforts to negotiate””)
Làm sao còn có thể rõ hơn được. Theo Phụ tá Đức, thì:(12)
“Ngay từ khi được bầu làm Tổng thống vào tháng 10, 1967,
ông Thiệu đã viết một bức thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh
đề nghị trực tiếp đàm phán giữa chính phủ Miền Nam và
Miễn Bắc. Trong bức thư được chuyển qua ngả Ủy Ban
Kiểm Soát Đình Chiến, Tổng thống Thiệu nói là 'để nghị
này có giá trị bất cứ lúc nào. Ông Hồ Chí Minh không đáp
ứng đề nghị này vì cứ coi chính phủ Miền Nam là bù nhìn
của Mỹ thì có lợi hơn cho ông ta. Về phía chính phủ Hoa Kỳ
thì cũng lạnh lùng với sáng kiến này vì Washington muốn
ngăn cẩn những liên lạc trực tiếp giữa Sàigon và Hà Nội để
có thể đóng vai quyết định về kết quả sau cùng của cuộc
chiến.
[Chúng tôi xin mở ngoặc nơi đây để ghi chú là thời Đệ
Nhất Cộng Hòa, việc TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình
Nhu muốn nói chuyện thẳng với Hà Nội đầu năm 1963 có thể
đã là một nguyên nhân đưa tới đảo chánh.]
Quá trình về đàm phán thời Tổng thống Nixon thì chúng
tôi đã nhắc lại trong Chương 15. Tiến sĩ Kissinger một mình
sắp xếp mọi việc. Tới khi thất bại thì thuyết phục Tổng thống
Nixon là “cứ đổ cho Miền Nam bất lực" là xong chuyện: “Nếu
một hay hai năm kể từ bây giờ mà Bắc Việt nuốt trọn Miễn
Nam Việt Nam thì chúng ta vẫn cứ có được một chính sách
ngoại giao vững vàng nếu điều đó được xem như là hậu quả
của sự bất lực của miền Nam.” ĐỀ cho ông Nixon yên tâm, Kissinger thêm: “Một năm sau, thưa Tổng thống, Việt Nam sẽ
là một bãi hoang vu. ”
Như đã để cập, TT Thiệu đã muốn đàm phán hòa bình
thẳng với Bắc Việt. Vào mùa Thu, 1971 khi gặp TT Thiệu lần
đầu tiên, chúng tôi cũng gợi ý là Mỹ sắp bỏ rồi, bởi vậy ông
nên sớm đi tìm một giải pháp như đề nghị hiệp thương với
Miễn Bắc ngay, để rồi từng bước tới thống nhất trong hòa
bình. Ông đồng ý ngay và chỉ thị phái đoàn Việt Nam ở Hòa
đàm Paris mang để nghị này lên bàn hội nghị. Trong bài diễn
văn vào địp bầu cử năm ấy, ông cũng mang để nghị này ra.
Sau đó chúng tôi đã được báo Washington Post đăng tải cả
một trang vào mục Øz//ook (Ngày Chủ Nhật, 29 tháng 9, 1972)
một bài về để tài “Hai Miễn Việt Nam là Bạn Đông phường
Buôn bán” (“The Two Vietnam as Partners In Trade”). Trong
bài tôi có nhắc tới đề nghị của ông Thiệu. Tôi đưa ông xem
bài này và ông rất đồng ý. Nhưng các giới chức ở Bộ Ngoại
giao Mỹ thì không đồng ý, cũng chỉ vì lập trường từ ban đầu:
“Hoa Kỳ sẽ tìm cách điều khiển bất cứ việc thương thuyết nào
và sẽ chống lại bất cứ cố gắng riêng rẽ nào của Miền Nam để
điều đình. ”
Sau này có lần tôi hỏi ông là đã ký Hiệp định Paris rồi mà
sao ông vẫn còn nói tới chính sách “Bốn Không?” Ông giải
thích: “Tôi chỉ nói bốn không chứ có bao giờ tôi nói 'bốn không
cả trăm phần trăm * đâu. Đó chỉ là một chiến lược để điều
đình. Khi điều đình, có thể là 70% cái không này, 30% cái
không kia. Điều đình thì phải còn có cái gì đó để điều đình
CHỦ.
Ngày 29 tháng 1, 1975, sau khi mất Phước Long, ký giả
Philip McComb (Washington Post) đặt câu hỏi tại sao cuộc
đàm phán chính trị ở La Celle St. Cloud (gần Paris) đã bị khựng
lại từ ngày tháng 4, 1974? Ông Thiệu nói ông sẵn sàng kêu
gọi và không đặt ra điều kiện nào để Chính phủ Cách Mạng
Lâm Thời tái nhóm họp với VNCH ngay để thương thảo hòa bình. “Làm sao dư luận thế giới cũng như ở Hoa Kỳ có thể nói rằng tôi là người ngăn cản hòa bình? Chúng tôi cần có hòa
bình ngay, càng sớm càng tốt...”
Ý kiến của ông Thiệu không được chú ý vì lộ trình hòa
bình đã được sắp xếp tại Washington. Cuối cùng, vào ngày 25
tháng 4, 1975 tức là chỉ còn 5 ngày nữa trước sụp đổ, khi có
những cố gắng đàm phán giữa chính phủ VNCH và Mặt Trận
Giải Phóng, Ngoại trưởng Kissinger còn đánh điện cho Đại sứ
Martin: “Tôi muốn ông hiểu rõ rằng việc thương thuyết về giải
pháp chính trị phải được thực hiện ở Paris.” (xem Chương
10).
Ông Thiệu rất ưu phiển về sự việc là chính Tổng thống
Nixon cũng đã chỉ trích ông là ngoan cố, cẩn trở hòa bình.
Ngày 29 tháng 11, 1972, trong một văn thư ông Thiệu viết cho
TT Nixon có câu: (13)
“Nơi đây, tôi muốn được nhắc lại một điều: đó là trong
bốn năm qua, Ngài và tôi đã có nhiều hành động và đưa
ra nhiều đề nghị về hòa bình. Tôi đã chấp nhận bao nhiêu
những nguy hiểm vì tình trạng bất ổn (có thể xẩy ra). Mỗi
lần làm như vậy, Ngài đều đã nói với tôi rằng đây là dậm
đường cuối cùng, ta không thể nhượng bộ hơn được nữa...
“Nhân dân Việt Nam không thể làm gì ít hơn là gửi tới
Ngài một cách hết sức chân thành và thẳng thắn quan
điểm của họ về vấn đề này...Vì họ sẽ được sống hay phải
chết tùy theo giải pháp đàm phán sắp được kết thúc. ”
Trân trọng
Nguyễn Văn Thiệu
Thế nhưng phân trần cũng vô ích. Khi kịch bản tới lúc kết
thúc thì màn phải hạ. Trong văn thư đề ngày 14 tháng 1, 1973,
Tổng thống Nixon cảnh cáo thẳng thừng là ông nhất định sẽ
phê chuẩn Hiệp định dù phải làm một mình, và
“Trong trường hợp đó, tôi sẽ công khai tố cáo chính phủ
của Ngài làm cản trở cho công cuộc vấn hôi hòa bình tại
Việt Nam... ”
Trân trọng
Richard M. Nixon
*kxx*x*%
© Trăn trở về 'chữ tín?
Nhiều người cho rằng ông Thiệu đã quá tin tưởng vào Mỹ.
Và có thể là chính ông cũng đã suy nghĩ lại và công nhận như
vậy, vì vấn để làm ông u uẩn nhất là sự phản bội của đồng
minh. Tin nhiều thì đau đớn nhiều! Một người đa nghi và khôn
ngoan như ông Thiệu thì ít nhất là từ cuối năm 1968, ông cũng
đã biết rằng trước sau rồi Mỹ cũng sẽ rút khỏi Miền Nam.
Nhưng có lẽ ông đã tiếp tục hy vọng, có thể nói là “bám víu,
hay theo như Phụ Tá Ngân, ông “câu giờ. Lý do là đã chẳng
còn sự lựa chọn nào khác. Là một tiểu quốc, một trong những
nước nghèo nhất thế giới, lại bị chiến tranh tàn phá, phải dựa
vào đồng minh từ hạt gạo tới viên đạn thì cũng khó mà đi ra
ngoài quỹ đạo. Vả lại, sự tin tưởng ấy cũng có căn bản:
e Tổng thống Johnson thì đã chứng minh sự cương quyết
ủng hộ Miền Nam bằng hành động: mang trên nửa triệu
quân vào để chiến đấu và tuyên bố như viện dẫn trên
đây: “Chúng tôi sẽ ở lại Miễn Nam bao nhiêu lâu còn
cần thiết.”
e Tổng thống Nixon thì chứng minh sự quyết tâm bằng
cả hành động, cả văn bản như đã đề cập (Chương 15).
Ông luôn thúc giục ông Thiệu phải tin tưởng: “Chúng
ta phải tin nhau hoàn toàn” (We must trust each other
fully). Khi ông Thiệu còn nghi ngờ thì ông Nixon mang
cả mạng sống người Mỹ ra mà trấn an: “Hoa Kỳ đã không kiên trì từ bao lâu nay, với sự hy sinh của bao
nhiêu mạng sống ngưới Mỹ, để thay đổi lập trường
vào mấy tháng chót của năm 1972... Nhân dân Mỹ biết
rằng Hoa Kỳ chẳng thể mua được hòa bình hay danh
dự, hoặc chuộc lại được những hy sinh của mình với
cái giá phải trả là bỏ rơi một đồng minh dũng cẩm.
Điều này tôi không thể làm và sẽ không bao giờ làm.”
******
Có thể là vì phải bám víu, phải câu giờ nên dù ông Thiệu
không muốn nhưng đã phải cố mà tin vào người đồng minh.
Ông đã bám víu như thế nào? Nhìn lại những hành động của
ông thì ta thấy:
e Khi ông biết chắc chắn là Mỹ sẽ rút, ông cố làm cho
việc rút quân tiến hành từ từ, chậm lại. Tại cuộc họp
Midway với TT Nixon, ông yêu cầu và được đồng ý là
tiến trình rút quân sẽ tùy thuộc vào ba yếu tố như đề
cập trên đây;
e_ Trong thực tế, quân đội Mỹ lại rút quá nhanh, nên ông
để nghị là Mỹ đóng lại ít nhất một lực lượng tối thiểu
(residual force) là ba bốn sư đoàn như ở Nam Hàn (lúc
đầu thì phía Mỹ luôn đồng ý như vậy);
e Khi đã rõ là không có cả một lực lượng tối thiểu, ông
xoay sang tranh đấu và đã thành công để có được những
cam kết dứt khoát về viện trợ tiếp tục và bảo đảm hòa
bình;
“ Vâng, có thể là tôi đã trông cậy vào Mỹ quá nhiều, đúng
như vậy, ” ông Thiệu nói với nữ ký giả Oriana Fallaci vào lúc
sắp ký kết Hiệp định Paris, “Nhưng đứng vào địa vị của tôi bà
cũng phải làm như vậy. Chúng tôi là một tiểu quốc, để giữ
được độc lập chúng tôi cần đến mọi thứ -từ quân viện tới kinh
viện. Thật đúng như thế, tôi trông cậy nhiều vào người Mỹ, và dù sao đi nữa, tôi vẫn còn trông mong ở họ. Nếu chúng tôi
không tin vào bạn của mình thì tin vào ai bây giờ? Người bạn
cũng như người vợ, cho tới lúc bỏ nhau, cho tới ngày phải ly dị
thì bắt buộc phải tin nhau. ”(14)
Nghe vậy, Fallaci bình luận: “Ông ta như chính biểu tượng
của một nước bị nghiền nát, khai thác, và làm nhục (crushed,
exploited and humiliated) do quyển lợi của những kẻ tạo nên
và phá hủy vận mệnh của những người khác như là một món
đồ chơi: đó là chiến lược toàn cầu của Tiến sĩ Kissinger. Trò
nhảy múa với Tầu, với Nga...”(15)
Cũng trong cuộc phỏng vấn với McComb vào cuối tháng
1, 1975 (như đã trích dẫn), ông Thiệu tâm sự:
“Chúng tôi đã lựa chọn, chúng tôi đã chọn để
đứng về phía tự do. Làm sao Thế giới Tự do
có thể bỏ rơi chúng tôi? ”
*******
Hai lần, một lần ở Dinh Độc Lập sau Pleiku và một lần tại
Luân Đôn, ông nói với chúng tôi “7e suis responsable mais
pas coupable” (Tôi có trách nhiệm nhưng không có tội). Chỉ
có lịch sử mới có thể phê phán một cách công bình về câu
này. Với những giải mật sẽ tiếp tục và khi mọi chuyện đều
ngã ngũ, lịch sử sẽ có thể phán xét Tổng thống Thiệu một
cách khắt khe về những gì ông làm cũng như những gì ông
không làm, về thành công cũng như thất bại.
Ngay bây giờ, chúng tôi có thể chắc chắn một điều: đó là
đối với ông, chỉ có lịch sử Việt Nam mới là quan trọng, còn
lịch sử Mỹ có viết gì về ông thì ông không để ý, như chính
ông đã viết trong bức thư cuối năm 1979 nhờ chúng tôi cải
chính trích dẫn về ông do tờ báo “NOW' (viện dẫn ở Lời Mở
Đầu). Ông chỉ nói tới cải chính những trích dẫn sai về cá nhân
ông và vấn đề Việt Nam, đặc biệt là về vấn đề “thuyền nhân”,
“còn những gì nó quote tôi dù trúng hay sai liên hệ đến Mỹ, tôi không quan tâm lắm. ”
Rồi khi để cập tới việc ông nên viết hồi ký, ông nói là
không muốn viết vì “Nếu fôi có viết hồi ký bằng tiếng Việt thì
cách này hay cách khác, họ cũng sẽ trích, dịch ra tiếng Anh...
Người Mỹ đã phản bội mình rồi, bây giờ đừng bêu xấu thêm
để họ còn cười cho nữa. ”
******
Người ta nói rằng ông Thiệu sinh đúng giờ Tý, tháng Tý,
năm Tý như vậy là tử vi tốt. Nhưng khi lên tivi đọc bài từ chức,
TT Thiệu tâm sự với đồng bào: “Trong suốt chín năm cầm
quyền từ Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia cho đến hai nhiệm kỳ
Tổng Thống, tôi chưa bao giờ có được một lúc nào sung sướng.
Năm nào cũng xấu, tháng nào cũng xấu, và giờ nào cũng
xấu. ”(16)
Về những u uẩn còn lại, tôi chẳng biết nói gì hơn để yên ủi
ông, chỉ nhấc lại câu chuyện về Tổng thống Kennedy. Ông
John F. Kennedy vừa lên ngôi vào tháng 1, 1961: cả thế giới
vỗ tay hoan hô, hết lời ca ngợi vị tổng thống trẻ tuổi, đẹp trai
lại tài ba. Nhưng chỉ ba tháng sau, ông bị thất bại trong vụ đổ
bộ Vịnh Con Heo (Bay of Pig, Cuba), dư luận - kể cả những
người trong chính phủ - đã tức khắc đổi chiều và chỉ trích ông
nặng lời. Ông Kennedy thản nhiên đáp lại:
“Victory has a hundred fathers and defeat 1s an orphan”
Tạm dịch:
“Lúc thắng thì có trăm cha,
Đến khi thất bại chỉ là mô côi. ”
(P463)


留言
張貼留言